Saturday, January 17, 2009

Hoan Nghênh Ông Bùi Tín 1 (Viet Thuong -Nam nhan-Ly Tuan)

Hoan Nghênh Ông Bùi Tín

Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn

Kính gửi: Ông Bùi Tín,

Nhân dịp đầu Xuân Quý Mùi (2003), ông cho công bố “Một phương án đổi mới trình đồng bào cả nước”. Và, ông kêu gọi mọi người tham gia thảo luận, góp ý.

Ghi nhận lời nhắc nhở của ông là: “dám suy luận bằng cái đầu tỉnh táo của mình, hoài nghi một số định lý, chân lý, tín điều cũ, dám nói to điều mình cho là đúng, khi cần dám cưỡng lại số đông…”* Trên tinh thần ấy, chúng tôi xin chân thành thảo luận và đóng góp ý kiến với ông, hy vọng sẽ đưa ra công luận những sự thật của lịch sử Việt Nam đương đại.

Trước hết, chúng tôi xin hoan nghênh ông đã tuyên bố từ bỏ 9 huân chương kháng chiến, quân công, chiến công, chiến sỹ vẻ vang đã được khen thưởng trong suốt chiều dài 47 năm tận tụy phục vụ cho đảng cộng sản Việt Nam. Chính hành động này của ông đã khiến chúng tôi chấp nhận đối thoại với ông lần đầu tiên nhân dịp Xuân Quý Mùi này (2003).

Tại sao phải đến tận bây giờ chúng tôi mới chấp nhận đối thoại? Thưa ông, chính do nội dung 2 cuốn sách “Hoa xuyên tuyết” và “Mặt thật” của ông đã khiến chúng tôi nhận ra rằng: chỗ đứng của chúng ta trong xã hội Việt Nam khác nhau về căn bản nên phương pháp tiếp cận sự thật, mô tả sự thật của chúng ta hoàn toàn ngược nhau.

Chỗ đứng của ông là chỗ đứng của kẻ cai trị.

Chỗ đứng của chúng tôi là chỗ đứng của người bị trị, của người chống xâm lược.

*****

Yêu nước hay bán nước?

Trong hai cuốn “Hoa xuyên tuyết” và “Mặt thật”, ông đã trưng dẫn rất nhiều hình ảnh sống động, bằng cả số liệu để chứng minh cho những tội ác mà Hồ chí Minh và tập đoàn nắm quyền trong đảng cộng sản Việt Nam gây ra cho nhân dân và đất nước Việt Nam cho đến tận giờ phút này, đều bắt nguồn từ việc sao chép, áp đặt cái gọi là chủ nghĩa Stalin của Nga-xô và tư tưởng Mao trạch Đông của Tàu cộng. Đã có lúc ông tiệm cận được chân lý khi ghi nhận câu nói của một nhà báo Mỹ (ông không ghi rõ tên) gặp ông ở Sài-gòn khoảng 1976-1977, rằng: “Các ông đã thắng trong chiến tranh, nhưng đã không thắng được trong hòa bình, các ông không chinh phục cũng không giải phóng được miền nam, các ông xử sự như những đội quân chiếm đóng(1). Và, ông nhận xét câu nói đó “thật là sâu sắc”, có nghĩa ông nhận thấy cách hành xử của giới chức cộng sản cầm quyền và quân lính của tướng Trần Độ tôi luyện là những tên xâm lược. Đó là khía cạnh nhạy bén của một nhà báo kỳ cựu và được tiếp xúc với bên ngoài nhiều, nhưng vì chỗ đứng là “đảng viên cộng sản ở vị trí có quyền” nên ông mượn lời một nhà báo Mỹ khuyết danh để che đậy cái thế éo le của ông: người thức thời trong hàng ngũ lũ bán nước!

Dám nhìn vào cuộc sống thật của nhân dân Việt Nam, nhưng ông lại phải làm cái việc bảo vệ chỗ đứng của ông, bảo vệ cái tổ chức mà ông đã đầu tư toàn bộ niềm tin, tuổi trẻ; cả mồ hôi và máu, cho nên ông đã chân thật viết rằng: “Trên tinh thần ấy, tôi không thể quay ngoắt lại chửi bới đảng cộng sản, nói xấu đủ điều, phóng đại những sai lầm và tự phủ định chính mình về tất cả mọi mặt.”(2)

Cái thế éo le đó của ông đã khiến ông luôn luôn mô tả thì tương đối chân thật, nhưng kết luận thì tránh né cốt lõi của sự thật.

Hai cuốn “Hoa xuyên tuyết” và “Mặt thật” của ông được viết ra sau khi cả Nga-xô và khối chư hầu Đông-âu của nó đổ kềnh. Nhiều tài liệu phong phú đã bổ xung cho việc vạch trần những tội ác trời sầu đất thảm của tập đoàn cai trị ở các nước gọi là “phe xã hội chủ nghĩa”. Những người làm cái việc vạch trần các tội ác đó, phần lớn đều sống trong “địa ngục xã hội chủ nghĩa”, và cũng hầu hết đều ở cái thế éo le như ông. Nghĩa là, một tay thì vạch sự thật, còn tay kia tự che mắt không dám thấy tay mình cũng có máu. Vì thế cách lập luận cứ vòng vo tam quốc, trình bày theo lối hàn lâm, kinh viện, tránh né nói toạc móng heo cho dễ hiểu.

Thí dụ: Lê-nin là cha đẻ của chủ nghĩa thực dân đỏ thì lại gọi là chủ nghĩa Lê-nin. Lê-nin mượn chủ nghĩa Marx làm bộ áo cà-sa để che đậy bộ mặt bành trướng bá quyền. Vì thế nên ngay lúc Nga-xô còn bao khó khăn, Lê-nin phải ký hiệp ước để các nước vùng Baltique và Ukraine chịu ảnh hưởng của Đức, thì từ đầu những năm 1920 đã cho lệnh tiến quân đánh chiếm Ngoại-mông (nay là nước Mông cổ), đặt thành thuộc quốc trên thực tế, còn về danh xưng thì màu mè gọi là “nước bạn”. Rồi lại đẻ ra cái gọi là “Quốc tế 3” với luận điểm ủng hộ sự giải phóng của các thuộc địa (ra khỏi chủ nghĩa thực dân “xanh”) mà thực chất đó là công cụ của Nga-xô nhằm tuyển mộ, đào tạo người của các nước, nắm chặt cả thân xác lẫn linh hồn của họ, biến họ thành tay sai, trở về tổ chức chống “thực dân xanh” để rồi tự nguyện làm nô lệ cho thực dân đỏ. (là chế độ được đội tên là “Liên bang xô viết).

Mao trạch Đông của Tàu cộng thấy được âm mưu đó của Nga-xô, cho nên cũng dùng cái áo “chủ nghĩa Marx-Lê-nin” để chống lại Nga-xô và cũng muốn giành quyền độc tôn trong chủ nghĩa thực dân đỏ mà thôi.

Chẳng làm gì có cái gọi là “chủ nghĩa giáo điều (hay phần tử giáo điều)”. Nếu nhìn vào hành động thực tế thì cả Lê-nin và cả Mao đều là “xét lại” so với chủ nghĩa Marx. Lê-nin đã nói và làm ngược với Marx là “cách mạng có thể thành công ở một nước”; còn Mao thì dựa vào nông dân chứ không dựa vào công nhân, và lấy “nông thôn bao vây thành thị”. Vậy họ “giáo điều” ở chỗ nào?

Vì thế, nên những mục tiêu của chủ nghĩa Marx lại chỉ xuất hiện ở các nước “tư bản, đế quốc”, như về năng suất lao động, về phúc lợi xã hội, nhân quyền, tự do, dân chủ v.v… Còn ở các nước lấy chủ nghĩa Marx-Lê-nin làm kim chỉ nam thì hoàn toàn ngược lại. Cũng may là nhờ ăn, ở trong nước tư bản, nghiên cứu, sáng tạo và phổ biến trong điều kiện của nước tư bản mà các tác phẩm của Marx được quảng bá, và Marx chết cũng trong yên lành. Chứ giả du: nếu Marx ở một trong bất cứ nước nào với mô hình “xã hội chủ nghĩa” thì chắc chắn Marx sẽ được đưa vào “tầng đầu của địa ngục”, hoặc bị nghiền nát ở “Quãng trường Thiên an môn”, hoặc đập đá ở trại giam Đầm Đùn của Hồ chí Minh cho đến chết rồi!!!

Những thông tin trong hai cuốn “Hoa xuyên tuyết” và “Mặt thật” của ông chỉ rất phong phú với người chưa sống qua hoặc sống mà không có điều kiện hoặc không đặt mục tiêu nghiên cứu về cuộc sống của người dân dưới cái gọi là “chế độ xã hội chủ nghĩa”. Còn với người đã có ít nhiều kinh nghiệm về sự cai trị của tập đoàn Hồ chí Minh và những kẻ nối nghiệp hắn thì còn hời hợt, còn nhiều chỗ sai và nhiều mâu thuẫn, quanh co.

Như chúng tôi đã nhận xét, rằng chỗ đứng của ông là của kẻ cai trị, mà lại là kẻ cai trị trong tổ chức cộng sản, nên nó vẫn đậm màu sắc ban ơn, kẻ cả và mâu thuẫn. Thí dụ, ngay những trang đầu của “Hoa xuyên tuyết”, ông đã viết: “Các bạn trẻ là tương lai của đất nước. Hãy tìm hiểu quá khứ và hiện tại, cố lý giải cho minh bạch mọi vấn đề và từ đó bắt tay xây dựng tương lai gần và xa. Các bạn hãy coi đây là lời tâm sự, là lời tâm huyết của một người đi trước nhận tội lỗi của thế hệ mình, của chính mình trước thế hệ trẻ thân yêu và tin cậy.”(3)

Trong đoạn văn nêu trên, ông kêu gọi “hãy tìm hiểu quá khứ và hiện tại”, nhưng rồi ông lại cũng ủng hộ hết mình lập luận kêu gọi: quên quá khứ. Thậm chí ông còn đi xa hơn khi viết: … “không nhắc đến những người đã quá cố vì họ không có khả năng tự bảo vệ nếu họ bị lên án”. (4)(!!!???)

Và, y hệt giới chức có quyền của cộng sản, luôn luôn tự cho phép thay mặt mọi người mà chẳng hề hỏi ý kiến ai. Cao và xa thì như việc bảy (7) tên cộng sản Việt Nam dám thay mặt cả nhân dân Lào và Cam-bốt, để theo lệnh của Quốc tế 3 (Nga-xô) thành lập “đảng cộng sản Đông dương”; gần thì Hồ chí Minh và cái dúm tay chân của hắn “tự cho phép thay mặt nhân dân Việt Nam” để xây dựng cái gọi là chủ nghĩa xã hội; để dâng đất, dâng biển cho Tàu cộng; dâng cảng Cam-ranh cho Nga-xô v.v… Ông cũng thế, ông Bùi Tín ạ! Làm sao ông có thể và có quyền thay mặt cho thế hệ của ông để nhận tội với thế hệ trẻ?(!)

Trong thế hệ của ông, số như ông là bao nhiêu? Ngay từ 1945, những người của đảng Đại Việt đã thấy cái chất yêu tinh trong lốt người của Hồ chí Minh; rồi tiếp đến là Đức cha Lê Hữu Từ cùng với giáo dân, nhất là ở địa phận Bùi Chu và Phát Diệm; rồi các người theo các giáo phái Cao-đài, Hòa-hảo v.v… cho nên mới có chuyện “bất hợp tác” với Hồ. Từ sau các phong trào do Hồ chí Minh phát động như “đấu tranh chính trị”, “rèn cán chỉnh quân” và sự công khai trở lại cái công cụ bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ (tức chủ nghĩa Lê-nin – Stalin) là đảng cộng sản Đông dương, phân thân làm ba (3) cho dễ biến hóa, mà cái phần ở Việt Nam gọi là “đảng Lao động VN”, thì những người ở thế hệ của ông đã ào ào tụ họp lại thành lực lượng chống sự xâm lược của thực dân đỏ. Lúc đó, chưa có điều kiện, chưa có nhiều dữ kiện cụ thể để chứng minh được cuộc chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp đã bị Hồ chí Minh lèo lái thành cuộc chiến dùng người Việt Nam chết cho chủ nghĩa thực dân đỏ Nga-xô, tranh giành thuộc địa với thực dân Pháp. Cho nên người ta đã mơ hồ gọi là cuộc chiến quốc – cộng, hoặc có khi gọi là chiến tranh ý thức hệ, để sau này còn lầm lẫn nặng hơn khi gọi đó là cuộc chiến huynh – đệ!!! Đây là cuộc chiến giữa nhân dân Việt Nam chống những tên Việt gian, lính đánh thuê cho thực dân đỏ Nga-xô, Tàu cộng. Nghĩa là chống thực dân đỏ xâm lược.

Ông đã kinh ngạc khi kể lại những chuyện Hồ chí Minh bị Stalin và Mao coi thường như thế nào; Hồ và lũ cán bộ cộng sản của Hồ đã răm rắp tuân theo một cách ngoan ngoãn những lệnh của Stalin, những ý kiến của cố vấn Tàu do Mao phái sang. Ông đã tả rất sinh động cảnh các cố vấn Tàu cộng ngồi gác hai chân lên bàn, nhổ nước miếng ồn ào rất là Tàu và ra mọi mệnh lệnh, và từ Hồ cho đến Trường Chinh, Hoàng quốc Việt v.v… kính cẩn chấp hành.

Ông là người đọc nhiều, đi nhiều, gặp gỡ nhiều, xin hỏi ông có thấy trong lịch sử Việt Nam và các nước trên thế giới (ngoại trừ các nước chư hầu cộng sản của Nga-xô và Tàu cộng) có chuyện như vậy xảy ra không? Chắc chắn là không. Còn nếu có thì chỉ xảy ra giữa mẫu quốc và thuộc địa; giữa khâm sai thiên triều với lũ tay sai bán nước mà thôi!

Chính vì chỗ đứng của ông ngược với chúng tôi, nên tuy có thức thời nhìn ra những cảnh trên, nhưng vì không dám “tự phủ định chính mình” (như ông viết), nên ông bào chữa cho bộ mặt bán nước của Hồ và chân tay kế cận là bị ảnh hưởng của Stalin-nít và Mao-ít!!!

Ông thử trích xem trong “chủ nghĩa Stalin” cà “chủ nghĩa Mao” có chỗ nào qui định cho “cố vấn” ngồi gác hai chân lên bàn, khạc nhổ bừa bãi và ra lệnh cho “chủ tịch nước”, “tổng bí thư đảng” v.v… và tất cả phải chấp hành không dám bàn cãi, dù phải rất tàn bạo đối với cả ân nhân của mình, như cái chết của bà Nguyễn thị Năm (tức Cát thành long) là một ví dụ.

Vì không dám nhìn vào cái sự thật của những hành động và thái độ Việt gian đó của tập đoàn Hồ chí Minh nên ông đã viết sai với sự thật rằng: “tôi ở trong quân đội do đảng cộng sản tổ chức và lãnh đạo từ tháng 9-1945 đến 10-1982.(5)

Vào thời điểm 1945, ngay tại Pháp, trong chính phủ của tướng Đờ-Gôn có sự tham gia của Mô-rít Thô-rê, là tổng bí thư đảng cộng sản Pháp, thế mà Hồ lại phải giải tán đảng cộng sản Đông dương? Trong khi các đảng khác như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội… tham gia Chính phủ Liên hiệp, đâu cần phải giấu mặt như Hồ và bè lũ. Tại sao vậy? Bởi vì nhân dân Việt Nam ghê tởm bàn tay máu của cộng sản từ cái gọi là Xô-viết Nghệ-tĩnh, và Hồ còn muốn cố che cái công cụ bành trướng của thực dân đỏ khỏi bị chú ý đến.

Mong ông hãy tham khảo lại “Biên niên tiểu sử của Hồ” (có trong cái gọi là “Bảo tàng cách mạng”) để thấy rằng thời kỳ đầu ra đời của lực lượng vũ trang là do sự hợp nhất các lực lượng vũ trang của các đảng phái, có cả bảo an binh của Chính phủ Trần Trọng Kim để lại. Cụ Vũ Hồng Khanh (VNQDĐ) là bộ trưởng quốc phòng; giáo sư Tạ quang Bửu (khi đó chưa là cộng sản) giữ chức thứ trưởng và các cán bộ khung là Hoàng đạo Thúy (huynh truởng hướng đạo) làm chính trị vụ trưởng; bác sỹ Vũ văn Cẩn (nhân sỹ yêu nước) làm y tế vụ trưởng, và Vũ Anh (Việt minh) làm chế tạo vụ trưởng. Lực lượng vũ trang được gọi là quân đội quốc gia, được đặt dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Liên hiệp, chứ không phải của đảng cộng sản!

Trong cái lực lượng quân đội đó, nhân sự là cộng sản hồi ấy chỉ có một nhúm rất nhỏ mà cũng chẳng dám công khai nhận mình là cộng sản. Số lớn những người có tài là từ lực lượng vũ trang của VNQDĐ như các tướng Nguyễn Bình, Nguyễn văn An v.v… Một số khác từ lò lính Pháp mà ra, rồi vào lực lượng bảo an binh, như Lê trọng Tấn, Bằng Giang, Lô Giang… Số khác là từ học sinh, sinh viên như các tướng Vũ Lăng, các đại tá Lê minh Nghĩa, trung tá Nguyễn sanh Thí… Thậm chí cả những người được đeo lon cấp tá như Nguyễn đình Thi, Đỗ Nhuận, Trần Dần, Hoàng Cầm, Cao kim Điển, Quang Dũng v.v… cũng chẳng biết cộng sản là cái quái gì khi gia nhập quân đội. Và, chính ông cũng thế. Phải chờ đến sau khi Mao làm chủ lục địa, quân đội Quốc gia Việt Nam bị Hồ, nhân danh Chính phủ Liên hiệp, đưa qua Tàu làm cái việc tẩy não, rèn cán chỉnh quân, dụ khị, cưỡng bức mọi người gia nhập cộng sản, biến cái chính nghĩa của Quân đội Quốc gia trong nhiệm vụ giải phóng Tổ quốc và dân tộc khỏi ách thực dân Pháp thành ngụy quân và cái danh xưng Quân đội Quốc gia bị đánh tráo thành “quân đội nhân dân” hay”bộ đội cụ Hồ”(!!!), công cụ của thực dân đỏ, để tranh giành thuộc địa với thực dân Pháp trên toàn cõi Đông dương.

Cho nên cái lực lượng vũ trang mà ông tham gia thoạt kỳ thủy không phải do “đảng cộng sản tổ chức và lãnh đạo” như ông đã viết. Vì thời kỳ đó về công khai làm gì có đảng cộng sản!!! Huấn luyện viên của các trường quân chính hầu hết không ai là cộng sản mà là hàng binh Nhật trốn ở lại; là cai, đội người Việt trong lính của Pháp cũ; là lực lượng bảo an binh của chính phủ Trần Trọng Kim để lại v.v… Quân đội đó từ lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam mà ra, theo lời kêu gọi của Chính phủ Liên hiệp.

Ngay Trần Độ, trong hồi ký viết lần đầu, do Nhà xuất bản Thanh niên in năm 1957, có kể rằng: cuối 1944, Trần Độ là bảo vệ của Trường Chinh, được Trường Chinh trao cho một khẩu súng lục Browning và 2 viên đạn. Trần Độ giữ súng đạn mà vẫn chưa biết sử dụng. Một hôm đi qua Nghĩa đô thuộc huyện Từ liêm (Hà-nội), bị trương tuần của làng vây bắt. Trần Độ rút súng ra, tuy không có đạn nhưng trương tuần không biết nên sợ hãi bỏ cho Trần Độ đi thoát. Sang giữa năm 1946, Trần Độ được đưa về trung đoàn Thủ đô, cũng vẫn chưa biết gì về súng. Đơn vị có khẩu trung liên của lính người Việt trong đơn vị lính Pháp lấy mang về. Anh em thấy Trần Độ do trên phái tới, tưởng giỏi lắm, nhờ Trần Độ chỉ dẫn. Trần Độ có biết gì đâu, nhưng láu vặt, không thực thà nói rằng không biết mà giả vờ lệnh cho người lính Việt Nam đã ở trong binh lính của Pháp ra tháo và lắp khẩu súng cho anh em xem, nhân đó Trần Độ cũng học mót.

Quyển hồi ký đó của Trần Độ ra lò cùng thời cuốn “ký sự Điện biên”, năm 1957, chắc chắn còn lưu giữ trong thư viện Quốc gia (phố Tràng thi, Hà-nội). Nếu ông chưa từng đọc qua, có thể e-mail về Việt Nam, nhờ ai đó đọc hộ. Từ đó để thấy, sau 45 năm, tưởng thiên hạ quên hết chuyện cũ, nên trung tướng cộng sản Trần Độ đã tự ý sửa lại hồi ký của mình, năm 1957, để từ bảo vệ (tức lính hầu) của Trường Chinh, thành “được đảng phân công giúp việc cho tổng bí thư Trường Chinh”.(6) (Đúng là Cuội nên là tướng “chính ủy” có khác!!!)

Tiếp theo là các chính sách Việt gian nữa của Hồ đã khiến nhân dân Việt Nam chia làm hai khối. Một do Hồ cầm đầu quyết từng bước nhuộm đỏ toàn Đồng dương, biến Đông dương thành thuộc địa kiểu mới cho Nga-xô như Hồ đã nhận lệnh từ 1930, khi lập ra đảng cộng sản Đông dương. Khối còn lại là những người Việt Nam quyết bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Chính dã tâm của Hồ đã khiến năm 1954 Việt Nam tạm bị chia cắt làm hai miền qua hiệp định Genève về Việt Nam.

Ngay khi thi hành hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, bọn Hồ đã có dã tâm vi phạm. Chính ông đã kể lại lời Lê Duẩn rằng: …“Tôi nghĩ ngay đến bạo lực. Tôi bảo anh em chôn súng. Tôi bàn với anh em để lại lực lượng ở miền Nam không tập kết hết cả đâu nhé…”(7) Và ông cũng có nói đến nghị quyết 15 (khóa 2), của cộng sản Việt Nam, hạ quyết tâm dùng bạo lực vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam. Cái nghị quyết 15 ấy được ra đời trong cuộc họp dưới sự chủ trì của Hồ vào tháng 1-1959 (không hiểu sao ông lại viết lầm là 1960). Vì thế đến tháng 10-1959 chính phủ Ngô Đình Diệm phải có sắc luật 10/59 để tự vệ chống chủ trương bạo lực của cộng sản.

Đó là bằng chứng rõ ràng về dã tâm của tập đoàn Hồ chí Minh đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhân dân và chính quyền miền Nam Việt Nam vì tự vệ đã phải trừng trị những tên tay sai của thực dân đỏ nằm vùng, dùng bạo lực cướp của, giết người, phá hoại đời sống của người dân miền Nam. Nhưng do chỗ đứng của ông, nên ông đã nhìn sự việc lộn ngược, gọi bọn cướp của, giết người; bọn Việt gian, tay sai của thực dân đỏ đó là: “những người yêu nước”!!!(?)

Thưa ông Bùi Tín,

Những người Việt Nam rời vùng Hồ chí Minh cai trị, chạy vào thành thị trước năm 1954; những người từ Bắc di cư vào Nam, năm 1954; toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam cùng với bây giờ là đại bộ phận người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại (loại trừ bọn nằm vùng, bọn gọi là “thành phần thứ ba”, bọn cơ hội chủ hàng), và phải kể đến cả những người dân thường ở Bắc Việt Nam – mà ông gọi là công dân loại 2 – tuy cùng thế hệ với ông, nhưng tất cả đều là nạn nhân của cuộc xâm lăng vũ trang của thực dân đỏ mà tập đoàn cộng sản Việt gian Hồ chí Minh và bè lũ kế nghiệp thực hiện, cho nên họ không hề có tội gì với thế hệ trẻ để phải nhờ ông thay mặt xin lỗi. Hơn nữa, nếu viết như ông, rằng cả một thế hệ có sai lầm thì huề cả làng. Đây là kiểu xin lỗi rất quái chiêu, không biết phải nói như thế nào.

Cái lối tư duy đó của ông đã khiến ông không thấy rằng chính thế hệ trẻ hiện nay đang mang món nợ to lớn đối với thế hệ đàn anh, đã và đang chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân cả xanh, cả đỏ, cả lũ cộng sản Việt gian bán nước là tập đoàn Hồ chí Minh và những tên kế tục hắn cho đến nay là bọn Nông đức Mạnh, Lê khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê đức Anh, Võ văn Kiệt, Trần đức Lương, Phan văn Khải, Nguyễn văn An, Nguyễn mạnh Cầm, Nguyễn di Niên, Lê công Phụng v.v… Biết bao nhiêu người đã hy sinh thân mình. Một số rất ít được chôn cất ở các nghĩa trang thì sau tháng 4-1975, chính ông cũng thừa nhận rằng bị tập đoàn cộng sản Việt gian chóp bu cho san bằng mồ mả. Ngay những người đã chết từ lâu, trên mảnh đất của mình, mà bị đối xử như vậy, thì thấy bọn chúng còn tàn bạo hơn cả thực dân xanh (tức Pháp). Vì thực dân Pháp vẫn tôn trọng ngôi mộ của các liệt sỹ VNQDĐ ở Yên Báy, mộ của Đề Thám, của Phan Đình Phùng, Phan Chu Trinh v.v… và ngay cả mộ của bè lũ Nguyễn phong Sắc, Lê Mao… (Xô viết Nghệ tĩnh) cho đến Trần Phú, Hà huy Tập… và cả mồ bố đẻ của Hồ chí Minh đâu có bị chính quyền miền Nam Việt Nam san bằng. Các thương phế binh của QLVNCH còn ở lại Việt Nam bị đối xử ra sao? Ra đến hải ngoại, các thế hệ đó vẫn tiếp tục phục quốc, đấu tranh cho dân chủ, tự do của dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam không ngừng nghỉ. Những Phạm Phú Quốc, Ngụy Văn Thà, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Trần Văn Long… và bao chiến sỹ vô danh đã ngã xuống trước đây; những Hoàng Cơ Minh, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch… vừa qua; những Lý Tống, Nguyễn thị Ngọc Hạnh vẫn còn đang nằm tù vì đấu tranh cho quê hương và dân tộc. Những cuộc xuống đường của hàng 50 ngàn người về California trong vụ tên Việt gian Trần Trường; hàng 25 ngàn người trong kỷ niệm tượng đài chiến sỹ Việt-Mỹ vừa qua v.v… Thế hệ trẻ phải có trách nhiệm thừa kế thế hệ đàn anh, tiếp tục đấu tranh loại trừ tụi Việt gian cộng sản hiện nay, phải “tìm hiểu quá khứ và hiện tại, cố lý giải cho minh bạch mọi vấn đề và từ đó bắt tay xây dựng tương lai gần và xa.”(8)

Đúng vậy, nếu không tìm hiểu quá khứ và hiện tại thì sẽ mơ hồ mà hành động như kiểu nhóm trí thức trẻ ở Toronto, dâng hương tưởng niệm, đọc văn tế trung tướng cộng sản Trần Độ; hoặc như “giáo sư, nhà bình luận chính trị” Nguyên Khả Phạm thanh Chương, mạt sát những người không tưởng niệm Trần Độ là “những cái đầu con tôm”, nhưng khi được ông Đại Dương lịch sự chỉ dẫn cho bệnh táo bón thông tin, dư thừa ngôn ngữ Cầu Ông Lãnh thì Nguyên Khả “lặn” mất tăm, không dám trả lời đúng hay sai (dù bằng loại ngôn ngữ nào cũng được).

Ông chỉ có thể thay mặt cho thế hệ của ông đã và đang còn nằm trong bộ máy đàn áp của tập đoàn Việt gian cộng sản để xin lỗi thế hệ trẻ về những sai lầm tàn bạo, đẫm máu gây ra cho nhân dân và đất nước Việt Nam. Xin thành thật ghi nhận thiện chí của ông, nếu ông làm được điều đó.

Nhưng, xin lỗi chưa đủ, mà phải giúp cho thế hệ trẻ những thông tin trung thực, những kinh nghiệm máu và nước mắt của bản thân để họ dễ dàng “hiểu quá khứ và hiện tại” ít nhất cũng phải tương đối chính xác, làm cơ sở để “lý giải minh bạch mọi vấn đề”.

Đặc tính của tập đoàn Việt gian cộng sản là “vừa đánh trống vừa ăn cướp”, là “ký sinh trùng” của xã hội, là “nói một đằng làm một nẻo”.

Hai cuốn sách của ông đã phơi bày mọi chính sách, mọi chủ trương của tập đoàn Hồ chí Minh và lũ thừa kế hắn, hoàn toàn do Nga-xô hoặc Tàu cộng chỉ đạo, sai khiến. Cung cách của chúng trước Nga-xô và Tàu cộng hoàn toàn là của lũ đày tớ vừa hèn hạ vừa trung thành mù quáng.

Những dẫn chứng cụ thể và sự mô tả của ông rất rõ ràng. Đúng ra phải kết luận rằng đấy là cốt cách Việt gian! Tiếc rằng ông, tuy biết hổ thẹn về “cấp lãnh đạo” đó của ông, nhưng chưa đủ can đảm để căm thù chúng, mà lầm lẫn kết luận sai và trút căm thù sai chỗ khi ông viết: “Cái duyên nợ nặng nề nhất với Việt Nam thì phải nói đến Stalin và Mao trạch Đông… Hai nhân vật này đã mang đến Việt Nam những cơn bão cấp 10, những cơn động đất đến 10 độ, làm điêu đứng từng gia đình, từng con người ở Việt Nam”! Tất nhiên là thông qua “thiện chí mù quáng” của đảng cộng sản Việt Nam. Tất cả bi kịch là ở đó.”(9) Và, ông gọi Stalin là “… tên khát máu man rợ nhất, một con thú dữ lộng hành suốt hơn 30 năm cầm quyền, một kẻ gây tai họa cực lớn cho xã hội, nhân dân Liên-xô và thế giới(10) Ông viết tiếp: “Stalin đã tạo ra những tên đồ tể dưới trướng hắn như Béria.” (11)

Về Mao, ông viết: “…từ 1950 đến tận 1978, sách ông Mao tràn ngập các cửa hàng bán sách Nhân dân và các tủ sách công cộng: trong thư viện Quốc gia Hà-nội, sách của Mao được xếp vào loại kinh điển cơ bản nhất. Thư viện các cơ quan cho đế tủ sách các khu phố, trường học, xí nghiệp… đều tràn đầy sách của Mao… Sự sùng bái mù quáng Mao đạt đỉnh cao nhất vào tháng 12-1951, tại Đại hội Đảng lần thứ 2 họp trên căn cứ Việt Bắc, trăm phần trăm đại biểu giơ tay thông qua điều lệ mới của đảng ghi rõ trên giấy trắng mực đen: Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Engels – Lênin – Stalin và tư tưởng Mao trạch Đông làm nền tảng. Mặt trời chói lọi ấy chỉ ít lâu sau đã chiếu rọi khắp đồng quê miền Bắc, với những cuộc đấu tố kinh hoàng giai cấp “địa chủ” (mà phần lớn chỉ là phú nông hoặc trung nông lớp trên); vợ tố chồng, con tố cha, con dâu tố bố mẹ chồng, anh chị em đấu tố nhau…”(12) Và, ông khẳng định ai là chủ ở miền Bắc Việt Nam khi ấy, khi hạ bút viết: “Những phái viên kiệt xuất của Mao chủ tịch “là những ông chủ thực sự của cải cách ruộng đất… mà mỗi lời phán, gợi ý, đề xuất được coi là mệnh lệnh, là chỉ lệnh của Mao chủ tịch vĩ đại!”(13) Đoạn văn trên của ông minh chứng Hồ và đảng của hắn là Việt gian! Tiếc rằng ông chỉ dám giải thích cái hiện tượng đó là do: “Sùng bái” mặt trời phương Đông, nể sợ thiên triều Bắc Kinh, ông Hồ đã truyền cho những người lãnh đạo khác ở quanh ông, cho cả đảng cộng sản một thái độ thụ động vô lý, mất hết khả năng phản kháng và tự vệ”.(14)

Tất cả những trích dẫn trên đều do ông tự nguyện viết ra, ấy thế mà do chỗ đứng của ông, nên ông lại rất mâu thuẫn khi cố bào chữa cho Hồ rằng: “ phía những người quốc gia cực đoan nhất thì sự đánh giá ông Hồ là hoàn toàn tiêu cực”!!!(?)(15)

Để rồi ông lại chán nản thốt ra rằng: “Trong các giáo trình lịch sử được dạy ở các trường hiện nay (tức trường của cộng sản), nhiều sự kiện, nhân vật… cũng bị xuyên tạc. Các giáo trình ấy cho rằng Việt Nam Quốc Dân Đảng sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại, đã tan rã hoàn toàn. Các tổ chức VNQDĐ sau đó rồi Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Duy Dân cũng như Cách mạng Đồng Minh Hội… đều bị coi là những tổ chức phản động, những tổ chức tay sai của Quốc Dân Đảng Trung quốc, tay sai của thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ; nói tóm lại những tổ chức ấy đều là những tổ chức “Việt gian”, là kẻ thù của dân tộc”.(16)

Những tổ chức nói trên mà ông ghi nhận rằng bị tập đoàn Hồ chí Minh và lũ thừa kế coi là “Việt gian”, lại còn qua giáo trình lịch sử để nhồi nhét vào đầu các thế hệ trẻ sự “xuyên tạc” ấy, chắc chắn không hề có chủ trương, chính sách, thái độ vâng dạ như Hồ và cái đảng cộng sản của hắn trước mẫu quốc Nga-xô và Tàu cộng để sát hại nhân dân Việt Nam, Lào và Căm-bốt. Bởi vì chính Hồ, trong cuộc gặp gỡ Lăng Kỳ Hán và Hồng Chi Hằng trong phái bộ của Trung hoa dân quốc, giữa năm 1946, đã trịnh trọng khẳng định rằng: Việt Nam bất kỳ đảng phái nào cũng nhất trí đòi hỏi độc lập”.(17)

Đấy là một sự thật. Nhưng là sự thật chưa đầy đủ, vì đảng nào cũng mưu cầu độc lập cho Việt Nam, chỉ riêng đảng cộng sản Đông dương là trước khi ra đời (1930), sau khi ra đời cho đến nay đều tìm cách triệt hạ các đảng phái, các cá nhân không chấp nhận để nhân dân và đất nước Việt Nam thành chư hầu của đế quốc đỏ Nga-Tàu.

Trần ích Tắc bị đi theo quân Nguyên vào Việt Nam (chắc vì ươn hèn và tham vọng). Những Hoàng cao Khải, Lê Hoan, chắc chắn tội ác không bằng một phần tỷ của Hồ. Khi Hồ còn sống đã dâng biển dâng đất cho Tàu cộng. Bọn thừa kế Hồ là Đỗ Mười, Lê khả Phiêu, Nông đức Mạnh… lại vừa tiếp tục dâng đất, dâng biển cho Tàu cộng và v.v…

Những kẻ nói trên bị lịch sử kết tội là Việt gian thì Hồ và lũ thừa kế của hắn phải là đại, đại Việt gian.

Dù ông cố tìm cách phủ nhận, nhưng sự mô tả của ông về Hồ và bè lũ qua hai cuốn “Hoa xuyên tuyết” và “Mặt thật” đã chứng minh hùng hồn và cụ thể rằng chúng, tức Hồ chí Minh và đảng cộng sản của hắn là lũ Việt gian bán nước.

Ai là ngụy quân?

Thưa ông Bùi Tín,

Ông cũng đã sai lầm khi viết rằng quân đội là do “đảng cộng sản tổ chức và lãnh đạo”.

Sự thật là cộng sản tận cuối tháng 12-1944 mới cho ra đời được một trung đội vũ trang, do Hoàng quốc Việt làm lễ trao cờ ở Tân Trào. Nhìn tấm ảnh chụp thì chấy có chừng ba chục mống là cùng, với Võ nguyên Giáp làm trung đội trưởng. Trong hồi ký của trung tá Nguyễn văn Rạng, một trong số người của cái trung đội ấy, có kể là được học tập “điều lệ của Việt Minh” mà thôi.

Về Việt Minh (cả tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh hội) ra đời từ 1936, do cụ Hồ học Lãm, một người Việt Nam yêu nước, lập ra ở bên Tàu, nhằm tập hợp mọi cá nhân có chung mục tiêu giành độc lập cho Việt Nam, có thể có đường lối khác nhau, nhưng cùng sinh hoạt trong tổ chức này để được chính phủ Tưởng giới Thạch khi đó cấp kinh phí cho hoạt động. Tổ chức ra đời, có ký danh với trung ương Quốc dân đảng của Tàu.

Khi Hồ chí Minh bị tướng Trương phát Khuê bắt bỏ tù vì nghi là hoạt động cho cộng sản, Hồ năn nỉ để được các cụ Hồ học Lãm và Nguyễn hải Thần, nhân danh Việt Minh, bảo lãnh cho ra tù. Hồ xin gia nhập Việt Minh và xin được về hoạt động ở biên giới Việt-Hoa. Chính nhờ cái “lốt Việt Minh” che đậy bộ mặt dra-cu-la cộng sản mà Hồ đã đánh lừa được nhóm thanh niên gồm hơn 40 người do tổ chức Việt Cách của cụ Nguyễn hải Thần móc nối qua Tàu và được Trương trung Phụng huấn luyện về quân sự. Cái nhóm đó chính là bọn Chu văn Tấn, Lê quảng Ba, Trần Sâm, Hồng Kỳ… sau này, tưởng Hồ là Việt Minh thứ thiệt nên chịu để Hồ giảng dạy về “Điều lệ của Việt Minh”, và họ quay về nước hoạt động phát triển Việt Minh.

Cho nên Việt Minh thật ra không phải là tổ chức của cộng sản. Điều lệ của Việt Minh không khát máu, nói chung, như cộng sản, nên nó có hiệu quả hơn khi vận động quần chúng tham gia.

Đội lốt Việt Minh, Hồ đã cướp không được hơn bốn chục cán bộ khung và dễ dàng mở rộng địa bàn ở biên giới. Vì thế, Hồ đã liên lạc với Trường Chinh, Hoàng quốc Việt để họp ở Cao bằng (1941) đưa ra âm mưu mượn danh Việt Minh hoạt động cho cộng sản. Sau này chúng trân tráo rằng Việt Minh là do chúng nặn ra!!!

Nhờ trong lốt Việt Minh, bọn Hồ đã dựng ra được cái gọi là “cách mạng tháng tám 1945”. Và, để chắc ăn hơn, Hồ cho giải tán đảng cộng sản Đông dương.

Nếu cộng sản có “uy tín trong dân” thì tại sao bọn cộng sản lại tuyên bố giải tán đảng của chúng? Và, còn ma mãnh hơn nữa, trong thư gửi tướng Trần tu Hòa (18), đề ngày 19-12-1945, Hồ khẳng định: “Việt Minh không phải là một đảng chính trị”, mà có nhiều thành phần tham gia.

Có thể ông (và một số người khác) sẽ hỏi: tại sao Hồ lại nắm được chính quyền?

Đúng là Hồ đã nắm được chính quyền, không phải do đảng cộng sản của Hồ được dân tín nhiệm, không phải các đảng phái không cộng sản yếu kém, như sau này các bồi bút cộng sản xuyên tạc sự thật lịch sử.

Đảng cộng sản Đông dương của Hồ có được dân Việt Nam tín nhiệm không, thì chỉ nguyên cái việc vào thời điểm dầu sôi lửa bỏng như vậy mà chúng phải tự giải tán đảng cũng đã là một câu trả lời rõ ràng nhất rồi. Có điều là các đảng phái không cộng sản; các nhân sỹ, trí thức yêu nước; các phong trào quần chúng tự phát; các tổ chức tôn giáo; cho đến cả Hoàng đế Bảo Đại, chính phủ Trần Trọng Kim v.v… đều chỉ biết vui mừng thấy sau khi Nhật đảo chính Pháp thì đến lượt Nhật đầu hàng đồng minh (15-8-1945), nằm yên chờ giải giới. Mọi người đều náo nức thấy sau gần 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ, nền độc lập của đất nước đã lấp ló như rạng đông nên mất cảnh giác dễ dàng để Hồ lừa. Mọi người, mọi tổ chức (trừ Hồ và bọn chóp bu của đảng cộng sản Đông dương) đều đấu tranh cho mục tiêu của độc lập, không có tham vọng thống trị như Hồ và bè lũ cộng sản, vì thế Hồ đã lừa đảo tất cả để cố “cướp lấy chính quyền”, là cái mục tiêu chủ yếu mà thực dân đỏ Nga-xô giao nhiệm vụ cho hắn khi thành lập đảng cộng sản Đông dương từ 1930. Cho nên khi ấy chẳng ai nghĩ đến “cướp chính quyền” trong tay chính phủ Trần Trọng Kim của Hoàng đế Bảo Đại, loại trừ Hồ và bè lũ là có âm mưu đó. Chúng dựa hơi vào các cuộc tuần hành tự phát của quần chúng và của các đảng phái không cộng sản, biến cuộc biểu dương lực lượng lập lờ thành sức ép của quần chúng, và qua tên Tôn quang Phiệt, móc nối với thư ký riêng của Hoàng đế Bảo Đại là Phạm khắc Hòe, để tên này báo cáo láo với Hoàng đế Bảo Đại, khiến Ngài vốn không thích cầm quyền nên đã sẵn sàng thoái vị, trao quyền lại cho toàn dân. Lòng lương thiện cả tin của từ Hoàng đế Bảo Đại cho đến cụ Trần Trọng Kim và các nhân sỹ, trí thức yêu nước đã dễ dàng bị mắc quả lừa của tụi cộng sản.

Thành công bằng sự “tháu cáy” đó nên Hồ sợ phản ứng của nhân dân. Hắn vội vàng mời hoàng đế Bảo Đại làm cố vấn tối cao, cho Phạm khắc Hòe (thư ký của Bảo Đại) làm đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ; mời hầu hết các thành viên trong chính phủ Trần Trọng Kim tham gia chính phủ; mời các nhân sỹ, trí thức có tên tuổi, các quan lại cũ như thượng thư Bùi bằng Đoàn (cụ thân sinh của ông Bùi Tín); khâm sai đại thần Phan kế Toại; tổng đốc Hồ đắc Điềm; các tri phủ Tạ quang Đạm, Dương văn Đàm v.v…, dùng Vũ đình Huỳnh, một người gia đình họ hàng là công giáo toàn tòng làm trong ban thư ký, để yên lòng giáo dân và từ đó đi Phát Diệm gặp Đức Cha Lê Hữu Từ mời vào ban cố vấn. Hồ còn đề nghị cấp tiền nuôi dưỡng cho các bà vợ của các vua Thành Thái và Duy Tân; cho in tem chân dung của Nam Phương hoàng hậu. Hồ còn đến Văn miếu dâng hương đức Khổng tử; dự giỗ tổ Hùng Vương, làm kỷ niệm ngày mất của Phan chu Trinh… và đề nghị hoãn lệnh của chính phủ Trần Trọng Kim triệt hồi và truy tố các tham quan (19), xin được hợp tác với các đảng phái không cộng sản, và tuyên bố giải tán đảng cộng sản Đông dương.

Thủ đoạn lưu manh chính trị đó đã giúp Hồ được mọi người coi như là một “nhà nho yêu nước”, nhất là Hồ cho loan tin rằng Hồ là con một phó bảng, một người đã từng được chung sống với cụ Phan chu Trinh ở Paris (Pháp). Và được cụ Phan dạy cho nghề ảnh. Cùng lúc Hồ cho tung tin Hồ giống như công tử Trùng Nhĩ (tức Tấn văn Công trong Đông Chu liệt quốc). Cho nên phần lớn không coi Hồ là cộng sản và sẵn sàng vì việc chung của đất nước mà hợp tác với Hồ.

Cho nên cái gọi là “cách mạng tháng tám” không có đổ máu. Đó là một sự chuyển tiếp hòa bình quyền lực cho toàn dân mà tụi lưu manh cộng sản đội lốt Việt Minh giành phần, bịa đặt “cướp công” thành “cướp chính quyền”; bịa chuyện đánh Nhật, đuổi Pháp mà trên thực tế Pháp đã bị Nhật lật đổ và đến lượt Nhật bị đồng minh bắt hàng không điều kiện. Chỉ đến khi nhận được ấn, kiếm của Hoàng đế Bảo Đại trao cho, tụi cộng sản mới… hơi lòi bộ mặt lưu manh trộm cắp. Đó là việc tên Trần huy Liệu cho giết Phạm Quỳnh và con là Phạm Giao và Trần huy Liệu còn cưỡng ép vợ Phạm Giao làm vợ lẽ của hắn. Hai cha con Phạm Quỳnh, Phạm Giao không liên quan gì đến chính phủ Trần Trọng Kim.

Việt Nam, chính phủ Trần Trọng Kim có thể tạm ví như chính phủ dân chủ Kêrenski ở Nga tháng 2-1917. Và Hồ đã áp dụng kiểu như Lê-nin với Kêrenski. Có điều bọn cộng sản Hồ chí Minh không được quần chúng đông đảo hậu thuẫn, tổ chức mỏng và lực lượng vũ trang có mỗi trung đội của Võ nguyên Giáp và Chu văn Tấn, vì thế Hồ phải giải tán đảng cộng sản Đông dương và chui đầu núp vào danh tiếng của Hoàng đế Bảo Đại, của các thành viên trong chính phủ Trần Trọng Kim, của các đảng phái không cộng sản, của các nhân sỹ, trí thức có tên tuổi, của các vị lãnh đạo tinh thần có uy tín, nhằm tạm thời che đậy bộ mặt Việt gian, tay sai của thực dân đỏ Nga-xô.

Nếu không kịp thời giải tán đảng cộng sản Đông dương và lờ đi cái tên Nguyễn ái Quốc, chắc chắn toàn dân Việt Nam sẽ không mơ hồ để phải chịu đựng quãng thời gian làm nô lệ cho thực dân đỏ gần dài bằng nô lệ cho thực dân Pháp (tính cho đến nay).

Mặc dù đa số đang ngây ngất men chiến thắng vì Pháp đổ, Nhật đầu hàng Đồng minh, được tự do đi lại ăn nói hội họp nên mơ hồ, nhưng vẫn không ít người sáng suốt nhìn được rõ con quỷ đỏ dra-cu-la Hồ chí Minh, như Trương tử Anh của Đại Việt, như Lý Đông A, như Khái Hưng, như Ngô đình Diệm v.v… và sau vụ này là Đức Cha Lê hữu Từ, cụ Trần Trọng Kim và cả cố vấn tối cao Vĩnh Thụy (tức cựu Hoàng Bảo Đại). Vì thế Hồ đã cho mật lệnh thủ tiêu những người yêu nước không là cộng sản, kể cả những nhân vật trotskít như Tạ thu Thâu, Phan văn Hùm… cũng như vu khống, bôi nhọ uy tín của các đảng phái không cộng sản và lãnh tụ của các đảng phái đó.

Khi đã nắm được chức chủ tịch của Chính phủ Liên hiệp, một trong những mối lo hàng đầu của Hồ là phải nắm lực lượng vũ trang. Để tránh lộ liễu, Hồ để những nhân vật không đảng phái hoặc đảng phái khác nắm bộ quốc phòng, cụ thể là cụ Vũ hồng Khanh làm bộ trưởng, thế là VNQDĐ của cụ Vũ hồng Khanh há miệng mắc quai khi Hồ cử các nhà quân sự của VNQDĐ vào Nam, như tướng Nguyễn Bình, Nguyễn văn An v.v… Rồi Hồ lấy cớ cần người có uy tín đi ký Hiệp định Sơ bộ 9-3 ở Đà-lạt, để cử cụ Vũ hồng Khanh đi, nghĩa là lột chức đầy quyền lực của Vũ hồng Khanh. Và Hồ đề cử luật sư Phan Anh, một người không đảng phái, từng là bộ trưởng trong chính phủ Trần Trọng Kim, giữ ghế Bộ trưởng Quốc phòng. Như vậy làm sao ai dám ngờ dã tâm của Hồ. Tiếp theo, Hồ cho lập Quân ủy hội song song với Bộ quốc phòng, và cử Võ nguyên Giáp làm chủ tịch Quân ủy hội, và cụ Vũ hồng Khanh, ký hiệp định Sơ bộ 9-3 về, làm phó chủ tịch Quân ủy hội. (20)

Ngày 22-5-1946, Hồ ký sắc lệnh số 71 về việc tổ chức quân đội (hợp nhất của các đảng phái, kể cả bảo an binh của chính phủ tiền nhiệm Trần Trọng Kim) và gọi là Quân đội Quốc gia. (21)

Thời gian đó ở phía Bắc, quân Tàu Tưởng, vào giải giới quân Nhật, gây nhiều chuyện nhố nhăng, quân Pháp lăm le quay trở lại. Còn phía Nam thì lính Pháp theo chân quân đội Anh vào giải giới quân Nhật bắt đầu gây chiến. Cả nước khí thế như núi lửa, thanh niên nam nữ ai cũng muốn gia nhập lực lượng vũ trang. Những nhà giàu bỏ tiền thành lập quân đội, như bà Cát thành Long chẳng hạn, đã nuôi hàng trung đoàn quân và cả hai con trai cùng gia nhập quân đội. Dựa vào khí thế đó, Hồ đã đội lốt Chính phủ Liên hiệp kêu gọi thanh niên nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc. Các trường quân chính được mọc lên.

Ngày 26-5-1946, Hồ cùng bộ trưởng quốc phòng là luật sư Phan Anh, chủ tịch quân ủy hội là Võ nguyên Giáp lên Sơn-tây dự lễ khai giảng lớp võ bị Trần Quốc Tuấn. Giám đốc trường là huynh trưởng hướng đạo sinh Hoàng đạo Thúy (không đảng phái) thay mặt trường nhận cờ Hồ tặng, có thêu tôn chỉ của quân đội quốc gia là: Trung với nước, hiếu với dân. (22)

Thưa ông Bùi Tín,

Những điều chúng tôi nêu trên là trích dẫn từ sách, báo, hồi ký, tư liệu lưu trữ của cộng sản. Điều đó đã chứng minh rằng cộng sản không phải là kẻ tổ chức và lãnh đạo quân đội.

Vì lòng yêu nước, các đảng phái, các cá nhân không cộng sản đã hòa giải, hòa hợp với nhau và với cả Hồ để cho ra đời Chính phủ Liên hiệp. Cái Chính phủ Liên hiệp đó mới là cha đẻ ra quân đội hợp nhất của các đảng phái, của bảo an binh và mang tên QUÂN ĐỘI QUỐC GIA. Quân đội đó ra đời để bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, với tôn chỉ: TRUNG VớI NUớC, HIẾU VI DÂN.

Từ 1930, theo lệnh thực dân đỏ Nga-xô, Hồ đã thành lập đảng cộng sản đông dương làm công cụ bành trướng chủ nghĩa thực dân đỏ ra toàn cõi Đông dương.

Hồ không phải như Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn văn Linh, chỉ loanh quanh trong 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam, không phải như me-xừ hoạn lợn (mà ông sáng tác thành thợ chữa khóa dạo) là Đỗ Mười, chỉ loanh quanh mấy chợ quê để thiến heo, hay như Lê khả Phiêu, cao nhất là tới đất Căm-bốt lúc đã bị tụi cộng sản thân Tàu tàn phá, mà Hồ từng sống trên khắp các nước Pháp, Anh, Mỹ, Tàu, Thái lan, Nga-xô… Nghĩa là Hồ không chỉ nghe nói mà là đã nếm, đã thử, đã sống trong một loạt xã hội có chế độ chính trị khác nhau. Nghĩa là Hồ có điều kiện thực tế để so sánh cái hơn cái kém của các thể chế chính trị đó. Hồ đã chứng kiến những vụ thanh trừng nội bộ, tàn sát nhân dân, âm mưu bành trướng bá quyền của Stalin. Và, chắc chắn Hồ phải hiểu rõ mục đích thành lập đảng cộng sản Đông dương để làm gì, lợi cho ai, hại cho ai?

Chính vì thế Hồ mới bán cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp; mới phá cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học; mới giết, bôi nhọ những người yêu nước v.v… Cho nên Hồ đã cố tình xóa bỏ công lao của Chính phủ Trần Trọng Kim đã thổi bùng trở lại tinh thần yêu nước của nhân dân trên toàn cõi Việt Nam; đã tạo ra tiền đề cho sự hòa giải, hòa hợp của toàn dân Việt Nam, để cuối cùng Hồ là kẻ thủ lợi.

Sau khi Tàu cộng làm chủ lục địa, Hồ cho quân đội quốc gia luân phiên qua Tàu để tẩy não, để ồ ạt kết nạp vào cộng sản. Và cuối cùng thì như ông đã viết trong sách của ông rằng: “Đảng lãnh đạo thường xuyên, liên tục, toàn diện và tuyệt đối quân đội ta”.(23)

Kể từ khi hoàn toàn làm chủ được quân đội quốc gia, Hồ đã đánh tráo cái tên quân đội quốc gia thành quân đội nhân dân hoặc “bộ đội cụ Hồ”! Và cái tôn chỉ ban đầu của Quân đội Quốc gia là “Trung với nước, hiếu với dân” bị biến chất thoái hóa thành “trung với đảng, hiếu với dân”; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.


* Chú thích:

Phần I của bài, chúng tôi đã đánh máy nhầm rằng: “Maurice Thorez là tổng bí thư đảng cộng sản Pháp…” Xin vui lòng sửa lại là: chủ tịch đảng cộng sản Pháp…” Trân trọng cáo lỗi cùng quý vị độc giả.

Thư gửi Ông Bùi Tín: Dân chủ hay dân chủ cuội (Viet Thuong)

Thư gửi Ông Bùi Tín:

“Dân chủ hay dân chủ cuội!”

Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn

Thưa ông Bùi Tín,

Bản thân ông là một nhà báo kỳ cựu của cộng sản. Anh em họ hàng của ông cũng nhiều người là nhà văn, nhà báo cộng sản. Chắc chắn những sự việc nêu trên ông đều biết, mà còn biết tỷ mỷ nữa kia. Tại sao ông kêu gọi nên "trung thực" mà lại lờ đi những kẻ viết sách xuyên tạc sự thật, đánh bóng lũ Việt gian, tay sai của Nga-xô, thành như những người yêu nước, để những người Việt trung hậu ở trong và ngoài Việt Nam, cũng như các thế hệ sau này, vì thiếu thông tin mà bị mắc quả lừa. Ông thừa biết tụi tự nguyện làm tay sai cho Nga-xô đã tích cực biết nhường nào nên chưa đầy 20 năm mà các sách báo của Nga, ảnh tài tử Nga đã đặc kín các thư viện trung ương và địa phương; các tủ sách nhà máy, công trường, nông trường, trường học mà còn trên đầu giường nhiều gia đình nông dân. Nhiều người cả đời chưa từng biết nước Nga ở đâu mà cũng đặt tên con là Mi-sa với Na-ta-sa. Nhiều nam nữ thanh niên không biết đến cả cái tên Nguyễn Du, Đoàn thị Điểm v.v., nhưng lại thuộc thơ Ê-xê-nhin; thuộc từng đoạn văn xuôi của Đốt-tôi-épxki; những lời "vàng ngọc" của Tchéc-nư-xépxki và tiểu sử của từ Tolstoi cho đến Bô-rít Pô-lê-vôi, Bun-đa-chúc, Fa-đê-ép, Gô-gôn, Tuốc-ghê-ép, Tchai-kốp-xkị!!!

Nhiều nam nữ thanh niên công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên và ngay cả binh lính, công an; thư tình viết cho nhau cũng nhố nhăng "chàng" gọi "nàng" là Lút-mi-la và "nàng gọi "chàng" là Xéc-gây. Học sinh, sinh viên hiểu về cuộc vượt sông Elbe" của "hồng quân Liên-xô" trong thế chiến thứ hai; về quân của Napoléon thất bại trước Ku-tu-dốp, mà không biết đến chiến thắng của Ngô Quyền; không biết đến quân của Lý Thường Kiệt đã đánh qua Tàu chặn đứng ý đồ xâm lược Việt Nam của Tàu, và không biết đến cả chiến thắng Rạch Gầm, Soài Mút của Quang Trung; còn buồn hơn nữa là chẳng biết đến Cử Huân, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám là ai, cũng như mù tịt về khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học!!!(?)

Thử hỏi như vậy là chúng đấu tranh cho "dân chủ" của nhân dân Việt Nam hay đấu tranh để xóa bỏ ảnh hưởng của văn học, nghệ thuật Việt Nam để cho tinh thần phụ thuộc, sùng bái Nga-xô đâm chồi, nẩy lộc trên khắp thành thị, xóm làng Việt Nam?

Đối với loại này, "hòa hợp - hòa giải" để nắm tay nhau cùng đi về hướng Mát-scơ-va chăng, cho dù là Mát-scơ-va của Putin?(!) Bài học làm tay sai cho Nga-xô còn nóng hổi!!!

Về nhóm "đấu tranh cho dân chủ", thành quả cụ thể chưa có gì rõ ràng. Chỉ có thể căn cứ vào quan điểm của họ qua phỏng vấn và các bài viết đã được công khai hóa, thì thấy:

* Một số người có những bài viết rất "bốc lửa", nêu đích danh một số tên đầu lãnh cộng sản và kể tội bọn chúng như những bài viết của ông Trần Khuê là một thí dụ. Nhưng nếu đọc cẩn thận thì thấy ông Trần Khuê chỉ đánh vào ngọn chứ không dám nêu ra cái gốc của tội lỗị Chưa nói đến rằng, quan điểm của ông Trần Khuê còn rất nguy hiểm. Trong khi vạch tội những loại Đỗ Mười, Phạm thế Duyệt, Đào duy Quát v.v., thì ông Trần Khuê lại đề cao Hồ chí Minh đến mức nâng lên thành chủ nghĩa Hồ chí Minh. Ông Trần Khuê tự bộc lộ là đệ tử cực kỳ trung thành của Hồ chí Minh, bỏ qua bằng chứng tội ác của Hồ, không muốn nhìn vào biết bao tài liệu đã và đang được khui rạ Hồ là kẻ độc tài nhất, tàn bạo nhất, là tên đại Việt gian nhất, không chỉ trong toàn bộ những tên Việt gian cộng sản, mà là nhất trong lịch sử Việt Nam. Tất cả những tên mà Trần Khuê hài tội đều do Hồ đề bạt, cất nhắc, đào tạo và điều đó chứng tỏ Hồ phải chịu trách nhiệm!

* Cho nên việc đặt Trần Khuê là người đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam hiện nay thật là hài hước!!!

hải ngoại hiện nay, cần nhớ lại xem, tại sao 50 ngàn người đã xuống đường trong nhiều ngày, nhiều đêm để đấu tranh việc tên Trần Trường treo cờ máu và ảnh Hồ chí Minh ở trong cửa tiệm của hắn.

Trần Trường chỉ treo ảnh của Hồ "trong tiệm của hắn thì bị phản đối".

Còn Trần Khuê ca ngợi, vinh danh Hồ, tuyên truyền rộng rãi trên các web thì được nâng lên thành nhà đấu tranh cho dân chủ!!!

Trần Trường và Trần Khuê, ai là kẻ xuyên tạc sự thật, bóp méo lịch sử và cực kỳ nguy hiểm cho việc đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam?!!!

Thử giả dụ như sau:

Một người Do-thái nào đó treo cờ phát-xít Đức và ảnh của Hitler ở trong nhà của họ và một người Do-thái khác viết sách, báo ca ngợi Hitler; thử hỏi kẻ nào đáng phỉ nhổ vào mặt hơn!!!

Là nạn nhân của tập đoàn Việt gian cộng sản Hồ chí Minh, phải bỏ tổ-quốc đi lưu vong, tỵ nạn, nhưng vẫn nung nấu lòng yêu nước, phục quốc. Vậy có thể nào phục quốc bằng cách đi theo một kẻ lấy đầu đội đít Hồ chí Minh lên mà thờ được không?

Phải chăng vì Trần Khuê bị cộng sản quản chế, mới đây lại bị bắt v.v. nên là người đấu tranh cho dân chủ?

Phải căn cứ vào tuyên bố của họ, giấy trắng mực đen, chứ không phải nhìn vào việc cộng sản làm khó dễ hay bị bắt!

Trước đây, những tên tướng công an Mười Vân (Đồng Nai) bị tử hình; Năm Cam bị bắt; nguyên bộ trưởng điện, than Vũ ngọc Hải bị tù v.v. Như vậy cũng là đấu tranh cho dân chủ chăng?

Nhìn với góc độ là người tỵ nạn Việt gian cộng sản xâm lược, thì Năm Cam còn giúp mọi người thấy được bộ mặt thật của tập đoàn đầu nậu chóp bu của tụi Việt gian cộng sản đương quyền một cách thật cụ thể, nhất là công an và tòa án, công cụ chuyên chính của chúng. Còn Trần Khuê thì ngược lại, lớn tiếng tố cáo mấy tên cướp để rồi tạc tượng, lập đền thờ tên tướng cướp.

Công nhận công lao của Hồ như Trần Khuê quảng bá có nghĩa chúng ta đã tự phỉ nhổ vào tư cách tỵ nạn cộng sản xâm lược; phỉ báng sự hy sinh của quân, dân, cán, chính VNCH, và những nạn nhân của Hồ trong cải cách ruộng đất, chấn chỉnh tổ chức, cách mạng văn hóa tư tưởng, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và những người đã nằm dưới biển sâu trong cuộc vượt biển, tìm đường sống!!! Từ Trần Khuê, tưởng cũng cần thiết phải nhắc lại nhân vật Trần Độ, tuy ông ta đã chết, nhằm khẳng định quan điểm trắng đen rõ ràng về khái niệm đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam hiện naỵ

Về trung tướng Trần Độ, phó chính ủy ngụy quân cộng sản xâm lược Việt Nam Cộng Hòa từ 1960 đến ngày chúng đặt xong ách cai trị thực dân đỏ năm 1975, thì đã nhiều ngòi bút, cả trong và ngoài Việt Nam, nâng bi đến mức từ một viên tướng mà toàn thân, mồm miệng đều ướt đẫm máu dân Việt Nam, trở thành hai lần anh hùng: anh hùng giải phóng dân tộc và anh hùng đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam (ống đu đủ của Nguyễn thanh Giang).

Thưa ông Bùi Tín,

Là một nhà báo có quyền, ông đã được chứng kiến tận mắt nhiều sự việc nên ông đã viết về cái "huyền thoại" giải phóng dân tộc đó trong "Hoa xuyên tuyết" như sau: "Cuộc chiến tranh đã hao phí hàng triệu sinh linh, đều là con em đất Việt, đồng bào ruột thịt cả. Để làm gì? Để đến nỗi này chăng? Nói là giải phóng đất nước, giải phóng đồng bào, mà sao hàng trăm nghìn người lại phải vào ngồi tù trong các trại tập trung cải tạo, kéo dài hàng trăm, hàng ngàn ngày, với biết bao tủi cực và khổ đau. Nhân danh lẽ phảỉ Nhân danh lẽ công bằng? Nhân danh cách mạng? Tôi chẳng sao lý giải nổi nữa! Và cách mạng, hy sinh, chiến đấu để làm gì? Để sau toàn thắng, cuộc sống của nhân dân ta còn lầm than, bi đát hơn cả thời chiến tranh, để Nguyễn Du sống lại sẽ còn phải khóc cho thân phận hàng chục vạn nàng kiều hiện đại, đang nhan nhãn trên các hè phố Hà-nội, Sài-gòn khi nắng chiều vừa tắt.”(HXT, tr. 2)

Đọc những dòng trên, người Việt lương thiện nào cũng đau sót, tê tái trong lòng. Vậy mà ông, tác giả của những dòng đó, lại có thể viết lời thương tiếc Trần Độ khi hắn chết!!! Trong suốt 15 năm dài, Trần Độ đã cổ võ, chứng kiến cuộc chém giết đẫm máu của những người mà ông gọi là "con em đất Việt, đồng bào ruột thịt cả", vậy mà hắn chẳng những không thấy lương tâm cắn dứt mà còn tự hào về thành tích uống máu "con em đất Việt". Cho đến chết Trần Độ vẫn chưa một lời ăn năn, hối hận với các nạn nhân. Không những thế, Trần Độ còn vênh váo, tự hào là "siêu công dân", "công dân loại 1" ngay trước khi chết! Ông lý giải cách nào để có thể nhìn nhận một tên sát nhân từ răng tới tóc như thế là "đấu tranh cho dân chủ"?

Một số người, u mê hoặc cố tình u mê nào đó, cho rằng Trần Độ là tác giả của nghị quyết 5 - cởi trói cho văn nghệ sỹ - nên phù phép cho sát thủ chuyên nghiệp Trần Độ thành "anh hùng đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam". Là một nhà báo, là một đảng viên cộng sản có 47 năm tuổi đảng, chắc chắn ông không tin điều đó. Vậy tại sao ông lại "mũ ni che tai"? Ông thừa biết cơ cấu tổ chức của đảng cộng sản là chẳng có ủy viên trung ương nào là tác giả của một nghị quyết trung ương. Một nghị quyết T.Ư. nào đó về một chính sách nhất định là dựa trên cơ sở Nghị quyết của đại hội đảng. Đề xuất cho ra đời một nghị quyết T.Ự, phải là ủy viên bộ chính trị phụ trách bộ môn mà nghị quyết T.Ư. đề cập đến. Tập hợp của những kẻ độc quyền đề ra đường lối, chính sách gọi là"bộ chính trị". Đó là lý do sự ra đời và tồn tại của cái gọi là "bộ chính trị".

Cho nên cái nghị quyết 5 (mà Trần Độ mạo nhận là tác giả) được ra đời dựa trên cơ sở Nghị quyết đại hội đảng về "mở cửa" và "đổi mới" của thời Nguyễn văn Linh là tổng bí thư. Trần Độ là ủy viên trung ương, phụ trách văn hóa - tư tưởng, qua đường lối "đổi mới" nên được cho qua Nga-xô học tập về "công tác quản lý văn hóa - tư tưởng". Học tập về, Trần Độ được Nguyễn văn Linh sai làm đề cương về vấn đề "văn hóa - tư tưởng". Bản đề cương đó là ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc (cùng đi học ở Nga với Trần Độ), được Trần Độ "cóp-pi", được cả Đỗ Mười (khi đó là thường trực ban bí thư) lẫn Nguyễn văn Linh góp ý, sau khi Nguyễn văn Linh giành 2 ngày họp với văn nghệ sỹ để nghe các ý kiến đề xuất. Bởi vậy, nếu nói đến tác giả của nghị quyết 5 thì phải nói đó là Nguyễn văn Linh.

Bởi vì, ngay sau khi Nguyễn văn Linh rời chức trưởng ban dân vận trung ương và ủy viên bộ chính trị để về lại Sài-gòn nắm chức bí thư thành ủy Sài-gòn, thì từ Sàigòn đã có một số thay đổi về quản lý kinh tế và sử dụng văn nghệ sỹ. Cụ thể là, nhà nghiên cứu âm nhạc học từ Nga-xô về, là giáo sư Ca lê Thuần (con giáo sư Ca văn Thỉnh) được đưa vào thành ủy, phụ trách văn hóa – văn nghệ của Sài-gòn. Một nhà văn ở ngoài Bắc còn nằm trong ẩn số là Nguyễn mạnh Tuấn, được Nguyễn văn Linh chống lưng, nên cho ra đời cuốn đầu tay, mang tên "Đứng trước biển". Nội dung sách phê phán quan điểm bảo thủ, tư duy cằn cỗi trong quản lý sản xuất, nằm trong não trạng của tất cả các cấp, trừ "đồng chí bí thư thành ủy" là sáng suốt! Và về kinh tế thì, hiện tượng Ba Thi - giám đốc cửa hàng lương thực Sài-gòn - được "ô dù" và "đề cao", đến mức xóa sổ luôn Sở lương thực thành phố. Và Ba Thi thì vượt ra ngoài phạm vi lương thực để buôn cả xăng dầu v.v… Kể từ đó, Nguyễn văn Linh bắt đầu "ghiền" được tán tụng bằng văn chương và chú ý đến văn nghệ sỹ. Cho nên khi nắm chức tổng bí thư, Nguyễn văn Linh, là tổng bí thư đảng cộng đầu tiên, chịu ngồi 2 ngày liền lắng nghe ý kiến của văn nghệ sỹ mà chỉ chiếm có 50 phút để phát biểu ý kiến cá nhân. Nghị quyết 5 được bộ chính trị thông qua là như vậy!

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của đài á châu tự do, Trần Độ có nói đến việc "anh Nguyễn văn Linh hiểu lầm tôi, anh ấy giận tôi", nhưng Trần Độ né nói nguyên nhân. Cái nguyên nhân ấy chính là Trần Độ vốn hay ba hoa, đi đâu cũng cứ nói láo rằng mình là tác giả của nghị quyết 5. Vì thế mà Nguyễn văn Linh khinh thường và ghét Trần Độ. Nhân "mở cửa" không ổn, tập đoàn Nguyễn văn Linh "đóng cửa" lại, Nguyễn văn Linh cho dẹp nghị quyết 5 và cho anh chàng "ba phét" Trần Độ "ngồi chơi sơi nước". Ỷ mình là công thần bị bạc đãi, Trần Độ bật lò xo. Sự việc được tô màu là đấu tranh cho dân chủ!!!

Giờ thử xét lại nội dung "đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam" của Trần Độ là gì?

Cái gọi là nghị quyết 5 mà Trần Độ nhận vơ là tác giả, và có thể rất nhiều kẻ, chỉ biết cái tên "nghị quyết 5" chứ chưa chắc đã đọc và hiểu nội dung của nó, nhưng vẫn lớn lối bàn láo!!!

Trước khi có nghị quyết 5 thì văn nghệ sỹ, trí thức ở Việt Nam bị coi "không bằng cục phân", thân phận văn nghệ sỹ, trí thức vẫn là nô lệ của đảng cộng sản, tùy tiện sử dụng theo hứng. Đến khi nghị quyết 5 ra đời, thì nội dung của nó vẫn khẳng định đảng phải lãnh đạo công tác văn hóa tư tưởng mà văn nghệ sỹ, trí thức vẫn chỉ là công cụ của đảng.

Cái mới của nghị quyết 5 là dựa vào đường lối "mở cửa", "đổi mới", để đổi mới cách quản lý công tác văn hóa - tư tưởng và đổi mới cách quản lý lực lượng văn nghệ sỹ trí thức, nhằm khai thác có hiệu quả hơn cho sự độc quyền đảng tri..

Nghĩa là nội dung nghị quyết 5 đặt vấn đề tạo điều kiện thuận lợi hơn cho văn nghệ sỹ trong sáng tác. Nhưng thân phận văn nghệ sỹ vẫn phải chịu sự lãnh đạo của đảng (như con chó vẫn bị xích cổ vậy)!!!

Vẫn còn dưới sự lãnh đạo của đảng thì dân chủ ở chỗ nàỏ (xin quý vị thầy bói sờ voi trả lời cho!) Đã thế còn dưới sự lãnh đạo của một tên học chưa qua bậc 2 phổ thông như Trần Độ!!

Đấy là về cái gọi là nghị quyết 5.

Còn những điều Trần Độ nói và bàn thì chẳng có điều gì mới lạ hơn những tụi cầm quyền trong tổ chức Việt gian cộng sản đã, đang và vẫn tiếp tục nóị Xin tham khảo sự so sánh qua bài của ông Đại Dương, có tên "Thưa chuyện với ông Phạm thanh Chu+ơng." (Tạp chí Người Dân, số 148, 12-2002 - Costa Mesa - CA. USA)

Là một trong những người chủ chốt gây ra cảnh tàn sát nhân dân Việt Nam Cộng Hòa, đẩy những nam nữ thanh niên miền Bắc Việt Nam vào lò lửa chiến tranh vì chiến lược bá chủ toàn cầu của đế quốc đỏ Nga-Tàu, Trần Độ chưa từng chảy một giọt nước mắt hối hận.

Là một người được cho làm ủy viên trung ương đảng cộng bằng chỉ định trước, liên tục 5 khóa liền, không hề thấy Trần Độ biết xấu hổ vì cái không có dân chủ đó. Cho đến tận lúc Trần Độ "đang hí hửng" với cái nghị quyết 5, thì Trần Độ vẫn chưa mở mắt để thắc mắc tại sao ban bí thư chỉ định Nguyên Ngọc làm "bí thư đảng đoàn" văn hóa văn nghệ, mà không có bầu bán. Nghĩa là trong đầu Trần Độ hoàn toàn không có khái niệm dân chủ (như mấy anh "thầy bói sờ voi" đoán mò).

Trần Độ cho đến chết vẫn tự hào về thành tích làm tay sai cho Nga-xô, Tàu cộng xâm lược, chém giết, tàn phá Việt Nam Cộng Hòa; tự hào được tên đại Việt gian Hồ chí Minh khen thưởng; sau khi bị đồng bọn "đá đít" ra khỏi trung ương thì giọng lưỡi Chí Phèo đã thốt ra rằng vẫn là "siêu công dân", "công dân loại một"!!!

Trần Độ có thể viết kể lể về việc bốc mộ cho bà chị, nhưng lại không thể có tuyên bố về việc tập đoàn Việt gian Lê khả phiêu, Nông đức Mạnh dâng đất, dâng biển cho Tàu cộng; có thể đi từ Hà-nội vào Sài-gòn thăm con và tuyên bố nhăng nhít đánh bóng cho bản thân và lũ gia nô mới, nhưng lại không thể về thăm quê ở Thái Bình để tìm hiểu, ủng hộ nhân dân Thái Bình đòi dân chủ và công lý!!!

Trần Độ đặt vấn đề về dân chủ không liên tục và mạnh mẽ như bọn cầm quyền. Và điểm giống nhau một cách tuyệt đối giữa Trần Độ và bọn cầm quyền là nguyên nhân không thể nào xây dựng dân chủ được ở Việt Nam chính là tập đoàn Việt gian cộng sản đề cao tư tưởng Hồ chí Minh và vẫn độc quyền nắm giữ lực lượng vũ trang và công an, tòa án là phạm vi vẫn bị tránh né đề cập đến.

Trần Độ và Trần Khuê là hai kẻ bổ sung cho nhau, nhằm thần tượng hóa Hồ chí Minh. Trần Khuê có học hơn Trần Độ nên "láu vặt", luôn luôn nịnh "đồng chí tổng bí thư". Chỉ tiếc cho Trần Khuê "tự mình răng cắn phải môi"; nịnh Đỗ Mười, mép còn chưa khô nước miếng thì Đỗ Mười đổ, Phiêu thay; lại lên dây cót lưỡi nịnh Lê khả Phiêu, còn đang ca vọng cổ chưa kịp xuống xề thì Phiêu lại kềnh và Nông đức Mạnh thay thế!!!

Tập đoàn Việt gian cộng sản đương quyền lấy tư tưởng Hồ chí Minh làm kim chỉ Nam.

Trần Độ cũng quyết noi theo con đường của Hồ chí Minh, nghĩa là coi việc tập đoàn Việt gian cộng sản nắm quyền cai trị là đương nhiên đúng như vậy, là tất nhiên phải như vậy. Cái mô hình "dân chủ đa đảng" trong đầu Trần Độ cũng giống như của Hồ, nghĩa là có vài đảng vệ tinh như kiểu Dân chủ và Xã hội xưa kia, để rồi cài đảng viên cộng sản vào lãnh đạo giúp cho thêm thắm thiết tình đoàn kết. Thí dụ như đảng viên cộng sản Hoàng minh Chính từng làm tổng thư ký đảng Dân chủ, và các bọn khác như Nguyễn thành Lê, Cù huy Cận, Phạm Hồng, Nguyễn việt Nam v.v. làm ủy viên trung ương của đảng Dân chủ. (Nguyễn thành Lê sau là ủy viên trung ương đảng cộng, phụ trách trưởng ban đối ngoại trung ương; Cù huy Cận là ủy viên thường vụ đảng đoàn cộng sản của bộ văn hóa thông tin; Phạm Hồng sau giữ ghế phó chủ nhiệm ủy ban liên lạc văn hóa với nước ngoài kiêm bí thư đảng đoàn cộng sản; Nguyễn việt Nam sau 4-1975 vào Sài-gòn là ủy viên thành ủy cộng sản kiêm chủ tịch hội đồng nhân dân thành phố Sài-gòn; còn Hoàng minh Chính xin đi Nga-xô học và về là Viện trưởng Viện triết học Marx-Lê).

Sau khi bị đá đít ra khỏi quyền lực, sự đấu tranh của Trần Độ chỉ là chống cách thức lãnh đạo của tụi đá đít Trần Độ, vì Trần Độ cho rằng như thế sẽ làm hại uy tín của đảng cộng. Nghĩa là Trần Độ muốn được có quyền lực trở lại để giữ uy tín cho đảng cộng bằng cái mô hình xã hội chủ nghĩa na ná như của Đặng tiểu Bình. (chắc là không dùng xe tăng đè chết những người đòi tự do dân chủ như Đặng đã làm ở Thiên-an-môn, mà sẽ dùng xe lu (xe lăn đường) đè chết cho nhuyễn xương thịt với nhau hơn!!!). Một tên tướng quân phiệt, tắm máu dân trong suốt 57 năm, lại có thể "ngộ" về dân chu??! Nói vậy chẳng khác nào "tú Bà" của Nguyễn Du về già "hoàn lương" (bằng tuyên bố mà thôi)!!!

Trần Khuê thì ca ngợi Hồ chí Minh, nâng lên thành chủ nghĩạ

Cả ba đều thờ chung "một thần" là Hồ, cùng là đồng đạo, đạo hữu cả, cho nên cả bọn chúng đều có quan niệm về dân chủ y hệt nhau, nghĩa là dân chủ cuội!!!

Chỗ khác nhau là Trần Độ bị đá ra khỏi quyền lực, Trần Khuê đang mê tiếng tăm và quyền lực. Có thế thôi!!! Còn nếu Trần Độ vẫn có quyền lực, Trần Khuê được chia sẻ quyền lực thì bọn chúng chẳng bao giờ chống nhau mà "úm ba la, ba ta đoàn kết"!

Bây giờ xin chuyển qua một nhân vật "đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam" nữa, từng được vài anh chàng thầy bói sờ voi ở hải ngoại cung kính nâng lên là "chí sĩ", là "đại trí tuệ"!!! Đó là tiến sỹ Nguyễn thanh Giang.

Đây là một thứ tiến sỹ, trí thức điển hình trong lò nướng Ba-đình mà ra: tham vọng lộ liễu; thích "thấy sang bắt quàng làm họ"; đường lối "đầu voi đuôi chuột"; tư duy sôi thịt tiên chỉ đình làng" và v.v.

Cái tham vọng, khoe khoang lộ liễu của Nguyễn thanh Giang là ở chỗ chẳng biết phân biệt thời điểm, chỗ nào cũng nói đến cái tôi một cách lố bịch, chẳng biết ngượng ngập là gì! Hết khoe là bạn của Trần đức Lương, lại là bạn của Trần Độ. Nào là "góp ý" cho Trần Độ chôn xác ở quê Thái-bình, đừng thèm để chôn ở Maiđịch. Khi viết về Lê chí Quang thì ngay đầu dòng đã khoe là tự Lê chí Quang đến xin được làm quen. Chuyện này chẳng ăn nhập gì với việc phản đối vụ bắt Lê chí Quang. Rồi y như trong một cuộc họp tổ công đoàn cơ quan, ở ngoài Bắc trước đây, để bình bàn xem ai được mua "quần đùi" hay "áo may-ô" phân phối, Nguyễn thanh Giang khoe đủ thứ nào lao động tiên tiến, chiến sỹ thi đua, thậm chí cả việc cơ sở đề nghị phong anh hùng (xin chú ý là mới đề nghị chứ chưa được chấp nhận; và nếu như có được chấp nhận thì cũng qua vài cấp nữa thanh lọc. Thông thường cả chục ngàn trường hợp mới có một trường hợp được duyệt là chiến sĩ thi đua toàn quốc mà thôị Còn anh hùng thì khó hơn sổ số giải jackpot rollover). Ấy thế mà cũng khoe "cái chưa thể có được"!!! Háo danh đến lẩm cẩm u mê như vậy thì làm sao chân thành đấu tranh cho dân chủ được!!! Xin được trích lại ý kiến của ông Bùi Tín (mà có thể nói là của hầu hết những người còn nhân phẩm, dù chỉ là quét rác, bán rau chứ chẳng cần phải có bằng tiến sỹ) về cái "trò khỉ" đó như sau:

"Ai cũng cho việc bình bầu tiên tiến và ưu tú là hình thức đến mức nhảm nhí, nhưng nó vẫn tồn tại bền bỉ. Vì ở mọi nơi, trong thời đại mới này, đã có quy ước ngầm là làm cho xong chuyện; và thế là cả làng đều là tiên tiến hết, 100 phần 100 tiên tiến là chuyện bình thường!”(Hoa xuyên tuyết, tr.2).

Ai cũng biết Trường Chinh là Mao-ít trăm phần trăm, cả từ tên cho đến tư duy; là kẻ chịu trách nhiệm về "cải cách ruộng đất", "chấn chỉnh tổ chức", "đánh nhân văn - giai phẩm", "cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh", "hợp tác hóa ở nông thôn"; là kẻ soạn nghị quyết 9 (khóa 3) thân Tàu cộng; là kẻ đánh cho Kim Ngọc (bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú) về tội "khoán sản phẩm đến các hộ nông dân"; là kẻ cách chức bộ trưởng bộ đại học và trung học chuyên nghiệp của giáo sư Tạ quang Bửu vì giáo sư Bửu không chịu "chính sách phân biệt lý lịch" trong thi tuyển vào đại học trong nước và cho đi học nước ngoài; là kẻ ngay 1-5-1975 đã lớn tiếng ra lệnh "miền Nam phải tiến lên chủ nghĩa xã hội" và v.v., ấy vậy mà khi Trần Quỳnh (trợ lý của Lê Duẩn) viết sách chê bai Trường Chinh thì Nguyễn thanh Giang đã sủa ầm lên là Trần Quỳnh "bôi nhọ đồng chí Trường Chinh". Với cái não trạng này liệu Nguyễn thanh Giang có thể chân thành đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam không?(!!!)

Về tội ác của tập đoàn Việt gian cộng sản dâng đất, dâng biển cho Tàu cộng, sự việc rành rành như vậy mà Nguyễn thanh Giang "lập lờ" chạy tội cho bọn chúng bằng cách tuyên bố rằng chúng bị lừa!!!(???)

Cố tình dâng đất và bị lừa để mất đất là hoàn toàn trái ngược với nhaụ Cách tuyên bố như vậy của Nguyễn thanh Giang, trẻ em lớp một cũng có thể hiểu được Nguyễn thanh Giang chống hay chống đỡ cho tập đoàn Việt gian cộng sản bán nước! Qua việc này, bộ mặt Nguyễn thanh Giang chống ai, tưởng đã quá rõ.

Trong bài gửi cho Lê hồng Anh, bộ trưởng mới của Việt gian cộng sản, Nguyễn thanh Giang khoe khoang theo kiểu là đàn anh, là thế hệ trước của Lê hồng Anh. Cũng với cách nhìn đó, khi bốc thơm Trần Độ thì kể nào là Trần Độ đã là tướng thì Lê đức Anh mới là thượng tá và v.v. Lối tư duy tiên chỉ đình làng như vậy thì Nguyễn thanh Giang làm sao hiểu nổi ở Mỹ hiện nay, phó tổng thống Dick Cheney từng là bộ trưởng quốc phòng thời Bush cha, thế mà nay chịu dưới quyền Bush con!

Hà-nội trước đây, cái tên Nguyễn thanh Giang dường như chẳng có ma nào để ý đến. Người ta thường nhắc đến những nhân vật như Nguyễn đình Tứ, Nguyễn văn Hiệu, Nguyễn văn Đạo, Hoàng Phương, Phan đình Diệu, Vũ đình Cự, Thái văn Trừng, Lương đình Của, Phan huy Lê, Trần quốc Vượng, Thái bá Vân, Từ Chi, Tô ngọc Thanh, Đặng xuân Kỳ, Ca lê Thuần, Vũ hoàng Địch, Phong Hiền, Nguyễn phúc Giác Hải v.v. Đặc biệt với nước ngoài, người ta khen kiến thức uyên bác của giáo sư Từ Chi và nhà phiên dịch Đặng vĩnh Thiên (một số giáo sư trường đại học Yale có qua Việt Nam); khen nhà ngôn ngữ Cao xuân Hạo, khen các bác sỹ Trương công Quyền, Nguyễn tài Thụ

Chính vì chẳng ai biết đến "cái đuôi" của Trần đức Lương là Nguyễn thanh Giang nên Nguyễn thanh Giang cứ mặc cảm tự ty, chủ động "tự ca ngợi" loạn xà ngầu đến lố bịch!

Một người háo danh, thấy "sang bắt quàng làm họ", lố bịch đến mức con trai của Trần Độ cũng từ chối không muốn gặp mặt thì làm được cái trò gì trong công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam. Những kẻ đó, mà cờ đến tay, gần như chắc chắn sẽ quay cán cờ mà đánh dân rồi và lại lên mặt khoe đủ thứ bà rằn về cái tôi rất đáng ghét!

*****


Tuy nhiên, nếu loại bỏ những phần tử cơ hội kể trên, quả rằng ở Việt Nam hiện nay có một số nhân vật trẻ tuổi rất có lòng vì nước. Đó là:

1) Lê chí Quang, rất dũng cảm kêu gọi "Cảnh giác Bắc triều". Vì thiếu thông tin, tài liệu trung thực, nên Lê chí Quang có một số quan niệm chưa chính xác. Một khi được tự do nghiên cứu, cập nhật thông tin, tài liệu, chắc chắn con người có nỗi đau và lo cho đất nước như thế sẽ tự điều chỉnh được quan niệm của mình về thực trạng của đất nước trong quá khứ và hiện tạị

2) Nguyễn vũ Bình, một nhà báo trẻ, dám giẫm lên điều 4 hiến pháp cộng sản 1992, đòi lập một chính đảng. Cũng trong cảnh bị bưng bít và đói thông tin như Lê chí Quang, nên Nguyễn vũ Bình, chưa biết đến lũ "xanh vỏ đỏ lòng", lũ "cò mồi" ở hải ngoại nên còn chưa chín chắn khi tiếp cận thông tin từ ngoài vào. Thí dụ cụ thể như việc khen quyển "Tổ quốc ăn năn" của một thò lò chính trị, táo bón sử liệu!

3) Phạm hồng Sơn, một trí thức trẻ với đúng nghĩa trí thức (chứ không phải là nhân viên chuyên môn cao cấp), đã sáng suốt khi "lẳng lặng" quảng bá tư tưởng dân chủ. Và, cũng rất dũng cảm biết hậu quả của việc làm đó sẽ ra saọ

4) Nguyễn khắc Toàn, một thương gia thành công, một người rất khiêm nhường, không ồn ào kiểu thùng rỗng như Nguyễn thanh Giang. Hoạt động giúp những người biểu tình đòi ruộng, đòi đất, chứng tỏ Nguyễn khắc Toàn có nhãn quan chính trị sắc bén, thấy được lực lượng chủ lực đấu tranh dành dân chủ ở Việt Nam hiện nay chính là "cái đám quần chúng nông dân bị bóc lột; cái đám thị dân nghèo khổ, ăn bữa sáng lo bữa tối" ấy mới dám đem thân mình dành lấy quyền sống, quyền làm chủ, chứ không phải như loại Nguyễn thanh Giang, cho con gái đi học nước ngoài, làm việc ở Anh-quốc, đời sống no đủ, ngồi phán nhăng phán cuội để cuối cùng cũng ngoan ngoãn đi bầu cử quốc hội ngụy quyền cộng sản!

5) Linh mục Nguyễn văn Lý, một người can đảm dấn thân, sáng suốt nhìn rõ bộ mặt Việt gian lưu manh của tập đoàn cộng sản cầm quyền hiện naỵ

Sự đoàn kết của giáo dân ở An-truyền, Nguyê.t-biểu là một minh chứng phương pháp vận động quần chúng đứng lên đấu tranh dành quyền tự do dân chủ của linh mục Nguyễn văn Lý rất hiệu quả.

6) Các vị lãnh đạo tinh thần khác, ngoài các sư sãi và linh mục quốc doanh, cũng là những người đấu tranh không mệt mỏị

7) Trong thực tế cũng như về mặt lý luận, lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam hiện nay chính là quần chúng lao khổ ở nông thôn, thành thị, miền núi. Vì là nạn nhân cùng cực nhất bởi sự thống trị của tập đoàn Việt gian cộng sản khát máu; bởi sự bóc lột của giai cấp tư sản đỏ câu kết với tư bản ngoại quốc, nên họ là lớp người đã, đang và sẽ đem cả sinh mạng của mình dành lại quyền tư do làm người!

Muốn đấu tranh xây dựng quê hương Việt Nam thành một nước tự do, dân chủ, nhân bản, phồn vinh, theo kịp đà tiến bộ mọi mặt của nhân loại, cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản xâm lược càng liên minh hỗ trợ cho nhau đối với những lực lượng kể trên ở quốc nội. Nghĩa là như ông cha ta đã dạy: "Chọn mặt gửi vàng".

_________________________________

Xin trích dẫn 6 thí dụ từ bài “Đối thoại năm 2000”, phần d của Trần Khuê và Nguyện thị Thanh Xuân.

Thí dụ 1: “Cho nên khi kết tội những người bị yếu thế như Hoàng văn Hoan, Vũ đình Huỳnh, Hoàng minh Chính, Đặng kim Giang, Lê Liêm… và gần đây nhất là tướng Trần Độ, chúng ta phải hết sức thận trọng không để các lực lượng chống cộng quốc tế cũng như các lực lượng tiêu cực, thoái hóa trong Đảng lợi dụng xuyên tạc, gây nhiễu về tư tưởng và chống phá chúng tạ”

Thí dụ 2: “Cần nhớ rằng, mỗi việc làm không đúng của chúng ta, những người đang đứng trên tiền đồn XHCN ở Đông-nam-á đều làm lợi cho kẻ thù, đều tác hại đến uy tín của CNXH, của Đảng cộng sản Việt Nam, của Dân tộc Việt Nam. Chúng ta mở cửa giao lưu và làm bạn với tất cả các nước để tạo một bước phát triển mới cho Dân tộc và Cách mạng, nhưng không ai được phép quên rằng chúng ta đang ở trong “một vòng vây kiểu mới”, bên cạnh những lực lượng thương yêu, thiện chí, có cả những lực lượng thù địch với CNXH, thù địch với tất cả những gì tốt đẹp đang diễn ra trên đất nước chúng tạ”

Thí dụ 3: “Riêng trường hợp tướng Trần Độ (tên thật là Tạ hữu Phách), chúng tôi thẳng thắn phê phán ông: “Bác nói những điều tâm huyết mong làm lợi cho Đảng, cho Nhân dân nhưng bác lại chọn lối nói và cách dùng từ như “Đảng trị” chẳng hạn mới nghe chẳng khác gì luận điệu bọn chống cô.ng.”

Thí dụ 4: “Lại nhớ hồi “đổi mới”, mấy ông nhà văn và nhà lý luận đặt lại vấn đề “mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị”. Lại còn cho rằng văn nghệ không phát triển được vì phục vụ chính tri.. Văn nghệ không phục vụ chính trị của một dân tộc hoặc một giai cấp thì phục vụ cái gì? Một vấn đề đã trở thành nguyên lý và đã thảo luận bao nhiêu năm rồi, thay đổi thế nào được? Đổi mới tư duy đâu có nghĩa là thay đổi những nguyên lý đúng đắn mà cả ta lẫn kẻ thù tư tưởng của ta đều phải tuân thủ nghiêm túc.”

Thí dụ 5: “Chúng tôi kiến nghị tất cả các cuộc hội thảo quốc tế ở Việt Nam nhất là những hội thảo về văn hóa phải bày tượng nhà văn hóa Hồ chí Minh cho người ta chiêm ngưỡng mà bàn bạc cho đứng đắn.”

Thí dụ 6: “Võ nguyên Giáp nếu dập theo binh pháp của Hoàng-phố hay Xanh-xia (Sincyr)(1) hoặc khuôn theo ý cố vấn này cố vấn khác thì chắc cũng không có một “Điện Biên Phủ chấn động địa cầụ”(2)

Ngày 13/06/2004

Mặt trận Tổ quốc của Cộng sản Việt Nam vươn vòi bạch tuộc ra hải ngoại (viet Thuong)

Mặt trận Tổ quốc

của Cộng sản Việt Nam

vươn vòi bạch tuộc ra hải ngoại

Việt Thường

Từ ngày cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản hình thành ở hải ngoại, đã được tập đoàn Việt gian cộng sản “chiếu cố” tận tình, và ngày càng tận tình bằng mọi cách.

Năm 1978, khi tới Paris, Phạm văn Đồng, thủ tướng ngụy quyền Hà-nội, đã lớn tiếng mạt sát cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản là đĩ diếm, trộm cướp, lười lao động, sợ gian khổ, phản động v.v…

Khi cái cộng đồng, bị vu cáo “lười lao động, sợ gian khổ” đó, đã cố gắng hội nhập với xã hội của thế giới tự do ở âu-Mỹ, thành đạt về mọi mặt, từ hoạt động chính trị xã hội, khoa học kỹ thuật đến kinh tế… Và, cũng nhờ đó mà các đồng US đô-la bay, như bươm bướm vào ngày hè ở Rừng Nguyên thủy Cúc Phương (Ninh Bình – Bắc Việt Nam), vượt đại dương, đậu đầy cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam. Từ đồng US đô-la, làng xóm Việt Nam bắt đầu có nhà ngói đỏ, có tiếng xe máy, có ti-vi màu v.v… Nhiều ngôi mộ được chỉnh trang làm đồng ruộng bớt hoang tàn. Nhân viên các cấp trong ngụy quyền Hà-nội, có dính dáng đến đồng US đô-la của cộng đồng người Việt tỵ nạn, gửi về giúp thân nhân, đều đỏ da thắm thịt hẳn lên. Và, cái lưỡi của Phạm văn Đồng, từng cất giọng chửi đổng ở giữa Paris, năm 1978, đã uốn éo, dịu dàng nâng chủ nhân của những đồng US đô-la lên là Việt kiều yêu nước! Nghe mà… mát cả cái ruột… già!

“Hội chứng Việt kiều” trong giới chức, từ hạ cấp tới chóp bu, trong mọi ngành, mọi cấp, mọi nơi của ngụy quyền Hà-nội, lên những cơn bịnh kỳ lạ, hệt như Sars hiện nay. Còn trong “quần chúng nhân dân” thì khỏi nói: Việt kiều yêu nước là niềm hy vọng, là niềm tự hào của mọi nhà. Nó hài hước đến cái mức một bà “Việt kiều ở Pháp”, làm nghề rửa bát ở tiệm ăn, vừa đặt chận tới sân bay Tân sơn Nhất đã có xe hơi của “tỉnh ủy Đồng Tháp” đón rước… về quê để xin liên doanh buôn bán, xin ủng hộ tài chánh cho các dự án phát triển của tỉnh! Và, một ông “Việt kiều ở Mỹ”, ăn tiền trợ cấp xã hội, vậy mà được phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng Võ văn Kiệt tiếp… kiến!!!

Những chuyện như trên không phải là “của hiếm” một thời ở cái nước có tên “cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Lý do thật đơn giản: vì kẻ nhiều người ít, hàng năm cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản gửi về trên dưới 2 tỷ US đô-la giúp thân nhân!

Thế là ngụy quyền Hà-nội vội đẻ ra mọi loại tổ chức, nâng lên đến ngang cấp boä, để cố vươn tay nắm lấy cái cộng đồng US đô-la này. Đúng là vớ được “hoàng tử Cóc… vàng”!!!

Sau đại hội cộng đảng Việt Nam lần 7 (1991) Đỗ Mười, anh công nhân “thiến heo”, có bệnh điên từ ngày cầm đầu cái gọi là “cải tạo công, thương nghiệp tư bản tư doanh” ở miền Bắc Việt Nam (1960), dù có được qua Tàu cộng chữa trị, nhưng thỉnh thoảng vẫn lên cơn, không phá làng phá xóm, mà chỉ leo lên cây bàng trước nhà nhìn trời, cười một mình; nhờ ngôi mộ tổ phát nên nhảy một cái lên chức tổng bí thư cộng đảng Việt Nam. Thế là cả ban chấp hành, cả đảng cộng… điên theo. Cũng chẳng phá làng, phá xóm. Cũng chẳng trèo lên cây bàng nhìn trời, cười một mình như me-xừ tổng bí thư. Tất cả điên vì… mê US đô-la! Cho nên “me-xừ tổng Mười” còn ngọt hơn “thủ Đồng”, bắn tiếng qua đài, qua báo chí rằng: “Cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản – tức cộng đồng US đô-la”người thân – tức khúc ruột ngoài xa. (Thấy sang bắt quàng làm… họ… mà!)

Thì ra, đại hội cộng đảng lần 7 (1991), ngoài những việc công khai, đã “tổng kết ngầm: kinh nghiệm về US đô-la”. Đó là:

“Tiền là Tiên, là Phật

Là sức bật của ông già

Là cái đà của danh vọng

Là cái lọng che thân” và v.v…

Và rút ra một nhận xét: “Cộng đồng… US đô-la mau giận, mau quên, giống như con bò sữa.”

Từ đó đã đến quyết tâm: “Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ chí Minh soi dọi và những bài học kinh nghiệm của “Hồ chủ tịch” để lại, trong việc lùa mọi “tầng lớp nhân dân là đối tượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa” vào các tổ chức – thành viên của Mặt trận, để dễ quản lý và… dễ làm thịt (như địa chủ và các nhà công thương, các hào lý ở làng xã vào đảng Dân chủ; trí thức vào đảng Xã hội v.v….). Mồi câu cho họ tự nguyện đưa đầu vào bẫy là sáu (6) chữ: độc lập, tự do, hạnh phúc!!!

Hãy nhớ lại chuyện xưa

Giờ đây, sự thật lịch sử ngày càng được phơi bày rất phong phú qua nhân chứng, tài liệu từ chính tập đoàn Việt gian cộng sản viết ra. Có thể tóm tắt như sau:

1) Hễ có một tổ chức nào ra đời, là chúng tìm cách đưa người gia nhập tổ chức để lèo lái, phục vụ cho âm mưu bẩn thỉu của chúng. Khi không lèo lái được thì phá.

2) Cho người của chúng ra lập tổ chức, nhưng dấu mặt là cộng sản. Trường hợp này chúng thường thông qua những người ngây thơ chính trị hoặc tụi cơ hội, cò mồi, có một cái “nhãn” nào đó, để dễ lừa thiên hạ.

Thí dụ:

- Trong cuốn “Gửi mẹ và quốc hội”, Nguyễn văn Trấn có kể việc bọn chúng đã lèo lái bác sỹ Phạm ngọc Thạch để lập ra tổ chức “Thanh niên tiền phong”, và chúng cũng cho người len vào tổ chức “Thanh niên” của kỹ sư Kha vạng Cân.

- Sau năm 1954, chúng cho người móc nối với luật sư Nguyễn hữu Thọ… để cho ra đời cái gọi là “Mặt trận giải phóng miền Nam” nhằm thu hút những người có chút tiếng tăm nhưng nhẹ dạ về chính trị, như Dương quỳnh Hoa, Trương như Tảng, Lâm văn Tết, bác sỹ Phùng văn Cung v.v… làm cái bình phong cho âm mưu xâm lược. Mặt trận Liên minh Dân tộc của luật sư Trịnh đình Thảo cũng chung một số phận. Chúng cài người vào cả các tổ chức tôn giáo, như lèo lái để Đại học Vạn Hạnh thành cái ổ dịch bệnh “thành phần thứ ba”; những linh mục Phan hữu Từ, hoặc cả giáo sư Nguyễn ngọc Lan (hồi đó còn là linh mục) cũng được móc nối ra Bến Lức (vùng phiến quân cộng sản hoạt động) để bàn với chúng về “chính sách hòa giải”, như ông Bùi Tín có kể lại trong cuốn “Mặt Thật”, (tr. 215).

Xưa kia là những đảng Dân Chủ Việt Nam, đảng Xã Hội Việt Nam, đều là thành viên của Mặt trận Liên Việt, được Mặt trận Liên Việt (công cụ gom mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam của họ Hồ) tổ chức cho học tập chủ trương “giảm tôï, giảm tức”, “cải cách ruộng đất”, “chấn chỉnh tổ chức, “cách mạng văn hóa tư tưởng”, “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh” v.v… Quá trình học tập là quá trình “đấu tố” lẫn nhau. Nói cho dễ hiểu là tất cả rơi vào ngón võ “để cho khỉ vặt lông khỉ” của họ Hồ. Và xong trò vặt lông, tất cả đều thành “đồ nhậu” của “bác Hồ” và cái đảng cộng sản, núp dưới tên đảng Lao động (đúng ra là đảng phá Lao động và giết mọi loại hình lao động, nhất là lao động trí óc). May mắn ai còn sống sót thì “trần truồng” thành “người nhộng” nên phải co cụm nằm im “ru bà rù” trong kén!!!

Thí dụ: bà Lợi Quyền, một tư sản đã quyên góp, nhiều nhất trong “tuần lễ vàng” của năm 1946, để Hồ có tiền, nói công khai laø đút lót cho quân Tàu Lư Hán, qua giải giới quân Nhật ở phía Bắc vĩ tuyến 13 của Việt Nam, để chúng sớm rút về nước. Nhưng, sự thật thì số đem đút lót chỉ có “chút chút” để bịp bà con Việt Nam yêu nước nhưng nhẹ dạ cả tin. Còn đại bộ phận là mua lại vũ khí của bọn Lư Hán để trang bị cho riêng những đơn vị quân lính và công an, tự vệ mà lúc đó tập đoàn Hồ chí Minh vội tuyển mộ để đàn áp các đảng phái, tổ chức không phải là cộng sản, như VNQDĐ, Đại Việt, Việt Cách v.v… Bà Lợi Quyền được Hồ thổi lên tận mây xanh trên báo chí, được tặng “bảng vàng yêu nước”. Các nhà công thương khác cũng được Hồ gặp mặt, cám ơn nhiệt thành. Bà Lợi Quyền, ông Nguyễn sơn Hà (tư sản ở Hải-phòng) cũng như đa số các nhà công thương yêu nước lúc ấy, đều có chân trong đảng Dân chủ Việt Nam – thành viên của Mặt trận Liên Việt của Hồ. Ông Nguyễn sơn Hà còn là đại biểu Quốc hội khóa 2!

Cuối cùng thì các vị công thương yêu nước đó cũng chỉ vì sáu chữ “độc lập, tự do, hạnh phúc” nên đưa đầu vào cho Hồ và cái đảng cộng sản của hắn… làm thịt, sau khi đã chiếm được miền Bắc Việt Nam. Bà Lợi Quyền thì quyền cũng không, kể cả quyền làm người dân thường. Còn răng thì sau đó cũng rụng hết, chết thịt gân tan hết nên lợi cũng tiêu luôn. Ông Nguyễn sơn Hà được làm “nghị gật” của quốc hội 2, mỗi năm một lần mượn người quen tấm áo lành lặn để… lên Hà-nội họp quốc hội cho đại diện hãng AFP của Pháp và phóng viên báo Humanité của cộng sản Pháp cũng như phóng viên Báo nh Việt Nam (chỗ nhà văn “xuất hiện trên văn đàn từ đầu thập niên 50” Vũ thư Hiên (như thông tấn VNN giới thiệu) làm phóng viên) chụp ảnh tuyên truyền cho nền dân chủ “đa đảng” theo “mô hình” của… “chủ nghĩa Hồ chí Minh”!!!

Đến lúc “thất cơ lỡ vận” đó, các nhà công thương yêu nước mới té ngửa ra rằng các vị lãnh tụ thực sự của đảng Dân chủ là Dương đức Hiền, Hoàng văn Đức, Đỗ đức Dục v.v… đã bị “vô hiệu hóa từ lâu”, và đảng Dân chủ do người của Hồ là những đảng viên cộng sản tin cẩn Hoàng minh Chính, Nguyễn thành Lê, Cù huy Cận v.v… đã đưa toàn đảng viên vào lò mổ có tên “chuyên chính vô sản”. Tiếc thay, biết khôn thì đã… hết đời!!!

Trong đảng Xã hội Việt Nam cũng thế. Qua “cách mạng văn hóa tư tưởng” mới trắng mắt ra. Ông kỹ sư Ngô huy Văn, ủy viên trung ương của đảng Xã hội, về chức vụ hành chính là Tổng cục phó kiêm Cục trưởng Cục điện chính của Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh. Nhưng khi học “chính trị trong giờ hành chính” ở cơ quan (chương trình kinh tế – chính trị học), vì là đảng viên trong một đảng không phải là cộng sản, nên ông Ngô huy Văn – theo quan điểm tổ chức lớp học – dù là kỹ sư lâu năm nhưng chỉ được học ở “trình độ sơ cấp”, nghĩa là chung một lớp với quét rác, nấu bếp, lái xe của cơ quan!

Tổng thư ký đảng Xã hội Việt Nam là kỹ sư Nguyễn Xiển (từng nổi danh thần đồng như Nguyễn thế Truyền, Nguyễn mạnh Tường v.v…) ép lòng làm “người nhộng” cho đến cuối đời, lúc hơn 80 tuổi, mới dám kêu não nuột như tiếng kêu của con thiên nga trước khi chết.

Còn các “Mặt trận giải phóng miền Nam”, “Mặt trận Liên minh dân tộc” và v.v… cùng với thân phận của những bác sỹ Phùng văn Cung, Lâm văn Tết, hòa thượng Thích đôn Hậu, Trương như Tảng, bà Dương quỳnh Hoa, tiến sỹ Lê văn Hảo, luật sư Trịnh đình Thảo v.v…, là những bậc khoa bảng tiếng tăm gấp ngàn lần mấy “chú dế trọi” ở Toronto, diễn biến ra sao thì nhiều người đã viết rồi.

Cái mồi dân chủ đã ra hải ngoại

Tập đoàn Việt gian cộng sản đã làm chủ trọn vẹn cả hai miền Nam – Bắc Việt Nam. Nhưng, đôi mắt của những tên cướp ngày đó vẫn thèm thuồng nhìn ra hải ngoại: cái cộng đồng người Việt ở hải ngoại, chỉ có gần 3 triệu, mà US đô-la gửi chính thức (chưa kể “chui”) đã trên dưới 2 tỷ một năm! Đúng là một mỏ vàng! Chưa kể với con số trên 300 ngàn trí thức, chuyên gia các ngành kinh tế, khoa học kỹ thuật mũi nhọn, ở trình độ tiên tiến của âu-Mỹ.

Dù đã cho những tay sai nằm vùng hoạt động, móc nối những “cựu” thành phần thứ ba; những tụi coi “đấu tranh chính trị” là một dịch vụ nhàn hạ mà ra tiền ra danh; những tụi đã chót “lỡ làng” khi nằm ở các trại cải tạo v.v… để lập “tổ chức ma”, để “đấu tranh cuội” với những khẩu hiệu “quên quá khứ, xóa bỏ hận thù, hướng về… tương lai”; “hòa giải hòa hợp” để xây dựng đất nước v.v…; và cố vươn tay nắm lấy cơ quan truyền thông ở hải ngoại; dùng danh và lợi mua những “ngòi bút bất lương” để cho ra mọi sản phẩm giả, trắng đen lẫn lộn – nghĩa là sản xuất các “thông tin tẩm độc”.

Tập đoàn Việt gian cộng sản vốn sinh ra từ bàn tay các “đồ tể” Nga-xô, Tàu cộng; đã được tôi luyện trong bàn tay tên gián điệp lão luyện, tên lừa đảo, thợ bịp chuyên nghiệp là Hồ chí Minh và hầu hết bọn chúng đã thực tập chém giết nhân dân, lừa đảo cả trong và ngoài nước trong suốt quá trình cuộc chiến bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ Nga-xô và Tàu cộng ra toàn cõi Đông dương.

Cho nên, chừng nào chúng vẫn còn “độc quyền đảng trị”, “độc quyền nắm giữ lực lượng vũ trang”, vẫn “lấy tư tưởng Hồ chí Minh” làm nền tảng cho mọi đường lối, chính sách v.v… thì cộng đồng người Việt hải ngoại cần tỉnh táo, cần nhắc nhở nhau về những bài học lịch sử vừa qua.

Qua nhiều ngón võ thăm dò, tập đoàn Việt gian cộng sản đã thấy cái cộng đồng người Việt hải ngoại có lòng yêu nước chân thành, cuồng nhiệt đến mức để tình cảm chi phối mất cả tỉnh táo.

Lấy thí dụ: Đọc lại bài văn tế tên trung tướng cộng sản Trần Độ của cái gọi là nhóm “trí thức” trẻ ở Toronto, họ viết rằng:

“Thưa Cụ Trần Độ,

Là người xem thường tù đày, xông pha trận mạc từ năm 16 tuổi và tới năm 70 tuổi, vì quốc gia dân tộc mà cất cao giọng trước cường quyền, Cụ là anh hùng. Mà nói như ngạn ngữ: “Anh hùng tử, khí anh hùng bất tử”.

Là người tung hoành chốn văn chương, Cụ là đấng tài hoa. Mà nói như Nguyễn Du: Xưa nay những đấng tài hoa, thác là thể phách còn là tinh anh”.

Thưa Cụ,

Chúng tôi lớp lớp hậu sinh

Chúng tôi ân hận mình sinh sau đẻ muộn không được đi theo Cụ trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

Chúng tôi biết ơn Cụ vì những điều lớn lao Cụ đóng góp cho giống nòi…”

Bài văn tế còn dài. Chỉ trích một đoạn mở đầu để những “trí thức thứ thiệt” thấy nó còn “lâm ly” hơn Văn tế Nghĩa sỹ Cần Giuộc rất, rất nhiều (chẳng biết nhóm trí thức trẻ có biết Cần Giuộc ở đâu và tại sao lại có bài Văn tế đó?). Ngay con đẻ của Trần Độ đọc được bài văn tế này chắc cũng phải đỏ mặt vì… xấu hổ (chứ không phải cảm động); và Trần Độ nếu sống lại chắc phải vái mấy “trí thức trẻ đó” và chạy… dài.

Bài văn tế nói trên cho ta thấy:

a- Tác giả hoàn toàn chẳng biết gì về Trần Độ. Vì, năm 16 tuổi Trần Độ còn là “thằng cu” Tạ ngọc Phách, mải đánh đáo khi đi chăn trâu cùng trẻ ở làng chứ xông pha ở trận mạc nào ở Việt Nam (nên đọc lại lịch sử Việt Nam đi, tội quá!)

b- Trần Độ làm gì mà “tung hoành trong chốn văn chương”? Ngay hồi ký còn phải nhờ người sửa hộ. Hẳn là như Trần Độ có tự thú trong tập hồi ký mới nhất rằng chót dại “Đánh tụi Nhân văn – Giai phẩm” ra trò. Đúng là “tung hoành” thật!”

c- Đọc được bài Văn tế này, Tố Hữu đã hộc máu chết như Chu Du trong chuyện Tam quốc của Tàu, vì thấy “lũ hậu sinh này có tài xuyên tạc và thổi ống đu đủ còn hơn Tố Hữu vạn lần, khi hạ bút nịnh Stalin là “cây đại thụ” và nịnh Hồ trong bài “Sáng tháng năm”!

d- Các tác giả có “tội nghiệp cho con cháu” khi bức màn lịch sử được vén lên và… búa rìu dư luận sẽ giáng xuống đầu con cháu của “bồi bút, trí nô” như thế nào?

e- Chữ nghĩa nịnh Trần Độ ra hết rồi, đến lúc tiến sỹ, viện sỹ Nguyễn thanh Giang đi “gặp tướng hai lần anh hùng Trần Độ” thì… chả lẽ sao lại nguyên văn chăng?

Chính vì trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại còn những loại “trí ngủ, bội thực chữ nghĩa, trái tim “ngục tù” nô lệ” như vậy, và nhiều ngòi bút cùng một số cơ quan truyền thông hoặc ủng hộ ngầm hoặc làm như “mắt mù, tai điếc”, để mặc cho đám cỏ dại đó mọc loang lỗ. Cho nên tập đoàn Việt gian cộng sản, theo “tư tưởng Hồ chí Minh” soi sáng, quyết bẫy cộng đồng nhiều US đô-la này vào tổ chức để dễ lèo lái và vắt sữa.

Trong Nghị quyết 7 (khóa 9) của cộng đảng, chúng nêu ra quan điểm là:

“Đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai.”(1)

Phần những chủ trương và giải pháp chủ yếu của nghị quyết 7, đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, chúng viết:

“… có chính sách động viên và tạo điều kiện cho người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương tham gia xây dựng đất nước… Có chính sách khen thưởng người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều thành tích đóng góp cho Tổ quốc.”(2)

Vì thế, nghị quyết 7 nhấn mạnh đến việc:

“Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc.”(3)

Trước đây, tập đoàn Việt gian cộng sản đã cố buộc người Việt tỵ nạn cộng sản bằng cái tổ chức mang tên “Hội thân nhân người Việt Nam ở nước ngoài” và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cái tổ chức đó chỉ như sợi dây cột được cái bóng của cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà thôi. Nghĩa là vẫn chưa tập hợp được nhân dân Việt Nam ở hải ngoại.

Việc ra mắt cái gọi là “Văn phòng đại diện” của “Hội nhân dân Việt Nam chống tham nhũng” ở hải ngoại chính là việc cụ thể hóa nghị quyết 7 (khóa 9) của cộng đảng bằng “đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân”.

Hãy tỉnh táo vạch mặt tụi bất lương

Xin quí vị Việt Nam ở hải ngoại hãy để chút thì giờ xem kỹ lại bản Nhiệm vụ và mục tiêu của “Văn phòng đại diện” của “Hội nhân dân Việt Nam chống tham nhũng”. Vì sợ lộ tẩy nên chỉ lủn củn vài hàng chữ, nhưng cái mục đích bất lương vẫn bị lòi ra ở chỗ, về tổ chức:

1) Là một bộ phận của HNDVNCTN tại Việt Nam;

2) Là tập hợp duy nhất của người Việt Nam ở hải ngoại chính thức đại diện cho HNDVNCTN tại Việt Nam.

Về nhiệm vụ của hội viên trong văn phòng đại diện, có mấy điểm cần lưu ý:

1- Vận động, thu nhận, điều hành người vào Văn phòng đại diện.

2- Gây quỹ, đóng góp tài chánh

Về mục tiêu ngắn hạn:

1. Thúc đẩy HNDVNCTN phải được tự do hoạt động tại Việt Nam

2. … đứng ngoài chính phủ, nhưng quan sát và thẩm tra chính phủ để thông tin cho toàn dân

3. … phải được quốc tế yểm trợ về tinh thần, vật chất cũng như những phương tiện cần thiết…

Về mục tiêu dài hạn:

Phải dân chủ hóa đất nước để diệt trừ tận gốc rễ của tệ tham nhũng tại Việt Nam. (Xin đọc toàn bộ bản văn: Văn phòng đại diện (VPĐD) ở phần chú thích).

Cần lưu ý những câu chữ “mơ hồ” trong bản văn này, đó là: “đứng ngoài chính phủ…”. Nếu ai chưa có điều kiện tìm hiểu cơ chế tổ chức của ngụy quyền cộng sản Việt Nam thì sẽ bị quả lừa. Bởi vì trong điều lệ tổ chức của các “tổ chức vệ tinh” do cộng sản nặn ra như công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ v.v… đều là tổ chức ngoài chính phủ và có nhiệm vụ và quyền giám sát chính phủ. Mặt trận Tổ quốcliên minh của những tổ chức nói trên của nhân dân Việt Nam, và nó cũng nằm ngoài chính phủgiám sát chính phủ.

Những tổ chức nói trên về hình thức tổ chức là của nhân dân, nằm ngoài chính phủgiám sát chính phủ. Còn về nội dung tổ chức, đó là công cụ của ngụy quyền cộng sản nhằm đưa toàn thể nhân dân Việt Nam vào tổ chức để dễ quản lý và khống chế, khai thác có lợi cho sự độc quyền đảng trị của cộng sản. – Vì sao là công cụ?

- Bởi vì, những kẻ lãnh đạo phải là đảng viên cộng sản (hoặc công khai hoặc bí mật), hoặc những kẻ có chút danh tiếng, địa vị xã hội nhưng tự nguyện làm tay sai cho cộng sản hoặc bị cộng sản cài bẫy nên phải để chúng sử dụng làm bình phong.

Thí dụ: một ai đó khi bị cộng sản bắt đi cải tạo đã khai báo về bạn đồng tù để được chút ưu đãi về thăm nuôi chẳng hạn, nay ra hải ngoại chúng bám theo để bắt làm việc cho chúng.

Cho nên lập Hội chống tham nhũng ở Việt Nam thì có thể còn có lý do chính đáng. Đem ra phát triển Hội ở hải ngoại thì thật là đại khôi hài.

Những ai không tường tận tình hình ở Việt Nam dưới sự thống trị của tụi Việt gian cộng sản, dễ bị cái mồi câu “dân chủ hóa đất nước để diệt trừ tận gốc rễ của tệ tham nhũng tại Việt Nam”.

Từ ngày cái Hội chống tham nhũng ở Việt Nam ra đời, với Trần Khuê là “bộ óc lý luận” của Hội, chưa làm được một việc gì ngoài việc mượn cớ chống tham nhũng để tuyên truyền “chủ nghĩa Hồ chí Minh” mà ngay một người “không làm chính trị” như Vũ thư Hiên, trong bài nói chuyện buổi ra mắt của Văn phòng đại diện, ngày 6-4-2003 tại Milpitas, California, cũng phải thú nhận rằng: cả Trần Khuê lẫn Phạm quế Dương, hai ông trùm của Hội:

“… đều không tiếc lời ca ngợi Đảng vinh quang trong mọi bài viết, luôn nhắc tới những công lao trời biển của Đảng lãnh đạo, đến nỗi nếu tách riêng những lời xưng tụng ấy ra khỏi toàn bộ văn cảnh của đơn từ thì có thể nói họ là những cán bộ tuyên huấn xuất sắc.”

Không chỉ là một cán bộ tuyên huấn xuất sắc như Vũ thư Hiên nhận xét, Trần Khuê là kẻ đầu tiên tổng kết tư tưởng và hoạt động của Hồ để cao giọng đề xuất lấy chủ nghĩa Hồ chí Minh làm nền tảng dân chủ hóa đất nước.

Đẩy tư tưởng Hồ chí Minh lên thành chủ nghĩa Hồ chí Minh, Trần Khuê đã tự bộc lộ là phần tử cực tả trong xã hội cộng sản đương quyền ở Việt Nam.

Nhìn vào “vị lãnh tụ tối cao” của cái Hội chống tham nhũng ở Việt Nam, với khuynh hướng cực tả;

Nhìn vào “nhân sự hải ngoại” của Hội, như bác sỹ Lâm thu Vân, kẻ tôn thờ tên đồ tể Trần Độ còn hơn Tố Hữu tôn thờ Stalin và Hồ. Mà Trần Độ đến lúc chết vẫn còn tự hào là đệ tử trung thành của Hồ và… Đặng tiểu Bình, tác giả dùng xe-tăng đè nát những người đòi dân chủ ở Thiên an môn (Bắc Kinh).

Nhìn vào vị “mở lời huấn thị” cho ngày ra mắt của Văn phòng đại diện, là nhà văn, xuất hiện trên văn đàn từ đầu thập niên 50, Vũ thư Hiên, một người “không làm chính trị”

Bình tĩnh chút xíu mà suy nghĩ sẽ biết cái tổ chức này là cái quái thai gì, nó là con đẻ hoặc con nuôi của ai và nó thực ra chỉ muốn xin tiền của cộng đồng US đô-la mà thôi.

Chúng ta ở hải ngoại có nhiều việc để thực sự dân chủ hóa Việt Nam bằng khả năng hiện hữu, bằng những hoạt động đang mang hiệu quả thiết thực như đấu tranh để Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam được thông qua, không chỉ ở Mỹ mà ở khắp các nước; đấu tranh cho lá Quốc kỳ Vàng Ba Sọc Đỏ có vị trí xứng đáng với truyền thống chống xâm lược đỏ; đấu tranh cho Quốc tế biết đến những vụ đàn áp mọi mặt ở Việt Nam.

Trên thực tế, ngụy quyền cộng sản Việt Nam cũng đề ra chống tham nhũng trong mọi nghị quyết. Trên thực tế, chúng đã cho xử vụ Năm Cam, hạ bệ nhiều tên trong trung ương cộng đảng của chúng như Trần mai Hạnh, Phạm sỹ Chiến, Bùi quốc Huy, và ngay cả Trương tấn Sang, một ủy viên chính trị bộ của chúng cũng bị khiển trách.

Còn hội chống tham nhũng của Trần Khuê làm được cái gì, chỉ đưa ra những trò vớ vẩn, mất thì giờ của thiên hạ.

Chúng ta hãy để thì giờ, tiền của maø đấu tranh cho những người thực tâm vì tiền đồ của Tổ quốc Việt Nam.

Đó là những vị: Linh mục Nguyễn văn Lý – Giáo sư Nguyễn đình Huy – Thương gia Nguyễn khắc Toàn – Luật sư Lê chí Quang – Bác sỹ Phạm hồng Sơn – Nhà báo Nguyễn vũ Bình – Hòa thượng Thích huyền Quang – Hòa thượng Thích quảng Độ – Cụ Lê quang Liêm v.v…

Và, xin đừng quên những vị như Lý Tống – Nguyễn thị Ngọc Hạnh!

Còn nếu muốn đóng góp US đô-la cho ngụy quyền cộng sản Hà-nội thì đóng thẳng cho tên Phạm thế Duyệt, chủ tịch đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tội gì mà đóng cho mấy loại nhí như đại diện của Văn phòng đại diện Hội của Trần Khuê, nhà nghiên cứu “Hồ chí Minh học”, có khi lại bị xà xẻo thì đáng tiếc lắm sao!!!

Ban bí thư cộng đảng vừa ra chỉ thị đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ chí Minh trong giai đoạn mới.

Bản chỉ thị của chúng viết:

“Đấu tranh chống mọi âm mưu, thủ đoạn, luận điệu của các thế lực thù địch và bọn cơ hội nhằm hạ thấp, bôi nhọ, cắt xén, xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ chí Minh.”(4)

“Có kế hoạch đầu tư, xây dựng, nâng cấp các nhà bảo tàng, khu di tích, nhà lưu niệm về chủ tịch Hồ chí Minh, ban hành văn bản hướng dẫn quy hoạch việc xây dựng tượng đài Chủ tịch Hồ chí Minh, phối hợp với các Hội Văn học nghệ thuật giới thiệu rộng rãi các văn hóa phẩm có giá trị về Chù tịch Hồ chí Minh trong nước và trên thế giới.”(5)

“Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ chí Minh qua các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động văn hóa, văn nghệ.”(6)

Chỉ thị của chúng cũng nhắc đến chuẩn bị kỷ niệm ngày sinh lần 115 của Hồ và 60 năm ngày ách thực dân đỏ đặt lên cổ nhân dân Việt Nam.

Dưới sự cai trị của ngụy quyền Việt gian cộng sản, mọi cá nhân, mọi tổ chức đều “thi đua công tác” từ đầu tháng 4 hàng năm để lấy thành tích chào mừng ngày quốc tế lao động 1-5 và ngày sinh của Hồ, 19-5.

Chẳng biết có ngẫu nhiên hay không mà ngày ra mắt Văn phòng đại diện HNDVNCTN ở hải ngoại lại đúng vào Đầu tháng 4, phù hợp với nội dung Nghị quyết 7 (khóa 9) của cộng đảng và chỉ thị về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ chí Minh trong giai đoạn mới.

Ngày ra mắt Văn phòng đại diện cũng là ngày giới thiệu cuốn “Đối thoại”, là tập hợp những bài viết của Trần Khuê. Những bài đó đều đề cập đến chủ nghĩa Hồ chí Minh!!!

Thế nghĩa là cái gì???

Ngày 12/04/2003

Chú thích:

- 1-2 và 3: Trích “Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa IX)” (Báo Nhân dân điện tử ngày 20-3-2003)

- 4-5 và 6: Trích “Chỉ thị của Ban Bí thư về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ chí Minh trong giai đoạn mới” (Báo Nhân dân điện tử ngày 4-4-2003)