Saturday, January 17, 2009

Phu Nu Viet Nam Duoi Ach Thong Tri Cong San 3 (viet Thuong)

Ăn thịt người

3000 nhân dân tệ - (1 USD = 8NDT)


Các thương gia ở Quảng Đông gần đây loan truyền một trào lưu bồi bổ rợn tóc gáy - Canh Thai Nhi. Chỉ cần 3-4000 nhân dân tệ là có thể thưởng thức món canh cực bổ làm từ thai nhi 6-7 tháng tuổi, được các thương gia ví như "tráng dương thượng phẩm".

Thương gia họ Vương - chủ một nhà máy ở DongWan - tự nhận là thường khách của canh thai nhi, cho biết : "Thai nhi độ mấy tháng tuổi, cộng thêm ...(một số vị thuốc Đông y không dịch được), hầm trong 8 tiếng rất có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết.". Ôm một gái bao 19 tuổi người Hồ Nam, ông Vương dương dương tự đắc nói : "Với độ tuổi 62 như tôi, mỗi tối đều có thể làm một lần (make love), chính là nhờ tác dụng của nó.".

Thấy vẻ mặt kư giả đầy hoài nghi, ông ta bèn tự nguyện dẫn ký giả đi "mở mang kiến thức".

Trạm đầu tiên, ông ta dẫn ký giả đến thành phố FoShan (Phật Sơn) tỉnh Quảng đông, tìm đến nhà hàng ăn canh thai nhi, không may ông chủ Lý nói : "Xương sườn (ám ngữ chỉ thai nhi) không dễ kiếm, hiện tại không có hàng. Loại này không thể để đông lạnh, phải ăn tươi mới tốt.".

Ông chủ Lý cho chúng tôi biết, nếu thực sự muốn ăn, "có một đôi vợ chồng ngoại tỉnh đến làm thuê, hiện đang có bầu 8 tháng, vì đã có 2 con gái nên nếu lần này lại là con gái thì có thể ăn được."

Ký giả vẫn bán tín bán nghi, điều tra phỏng vấn mất mấy tuần mà vẫn chỉ đựơc nghe mà chả được nhìn tận mắt, đă tưởng phải bỏ cuộc, nào ngờ mấy ngày sau ông Vương gọi điện báo : "Tìm được hàng rồi, tiết trời đang chuyển lạnh, có mấy người bạn đang muốn đi bồi bổ.".

Ông ta dẫn ký giả đến Đài Sơn, t́im đến nhà hàng, ông chủ họ Cao dẫn cả đoàn chúng tôi xuống bếp "khai nhăn giới".
Nhìn cái xác thai nhi chỉ nhỏ bằng con mèo con nằm trên cái thớt, ông Cao hơi ngượng ngùng nói : "5 tháng tuổi, hơi nhỏ một chút".

Ông Cao nói rằng cái xác thai nhi nữ này do một người bạn kiếm được dưới nông thôn, ông ta không muốn tiết lộ giá mua vào, chỉ nói rằng giá cả phụ thuộc vào tháng tuổi và sống hay chết. Ông Vương cũng nói thêm, ăn một bữa hết 3500 tệ, các chi tiết khác ông không quan tâm.

Ký giả nghe mọi người nói, thai nhi chết do lứu sản hoặc phá thai đựơc bán cho người môi giới khoảng vài trăm tệ, nếu là thai nhi sống đẻ thiếu tháng thì giá khoảng 2000 tệ, coi như mua làm con nuôi. Khi thai nhi được giao cho nhà hàng thì đều đã chết, còn chuyện trước đó là thai sống hay thai chết thì không quan trọng.

Bữa canh bổ này ký giả không có gan nếm thử, sau khi tham quan nhà bếp xong rất lâu không ăn đựơc gì, bèn giả vờ ốm cáo lui. Các món ăn đều làm từ thai nhi nữ. Đây phải chăng là tác hại của chính sách một con, là do tập tục thích bồi bổ của người Trung Quốc, hay chính vì cái lý thuyết cộng sản vô thần đă biến hoá con người thành những sinh vật vô tâm linh, vô lương tri, vô nhân bản>> LOÀI QUỶ ĐỎ CỘNG SẢN?



"Chuẩn bị"








"Làm thịt"











Sẵn Sàng



Last edited by Thùy An; 07-23-2008 at 11:59 PM.
Reply With Quote
#2


Default

Bữa tiệc của Quỷ
Những con thú 2 chân đang ăn thịt đồng loại




Thai nhi này là con của ai, mà lại để chúng ăn thịt như vậy?



"Sản phẩm từ thịt người" bày bán công khai




Phu Nu Viet Nam Duoi Ach Thong Tri Cong San 2 (viet Thuong)

ĂN THỊT THAI NHI !




“Hổ dữ còn không ăn thịt con…”, thế nhưng mà có người cha đã tự tay nướng con trai mình… Không những thế, hắn còn khen thơm và sau đó đã ăn thịt con mình một cách ngon lành
thương gia Đài loan ở Quảng đông gần đây loan truyền một trào lu bồi bổ rợn tóc gáy - Canh thai nhi. Chỉ cần 3-4000 nhân dân tệ là có thể thưởng thức món canh cực bổ làm từ thai nhi 6-7 tháng tuổi, được các thương gia Đài loan ví như “tráng dương thượng phẩm”.

Đài thương họ Vương - chủ một nhà máy ở DongWan - tự nhận là thường khách của canh thai nhi, cho biết : “Thai nhi độ mấy tháng tuổi, cộng thêm … (một số vị thuốc Đông y không dịch được), hầm trong 8 tiếng rất có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết.”. Ôm một gái bao 19 tuổi người Hồ Nam, ông Vương dương dương tự đắc nói : “Với độ tuổi 62 như tôi, mỗi tối đều có thể làm một lần (make love), chính là nhờ tác dụng của nó.”.

Thấy vẻ mặt ký giả đầy hoài nghi, ông ta bèn tự nguyện dẫn ký giả đi “mở mang kiến thức”.

Trạm đầu tiên, ông ta dẫn ký giả đến thành phố FoShan (Phật Sơn) tỉnh Quảng đông, tìm đến nhà hàng ăn canh thai nhi, không may ông chủ Lý nói : “Xương sườn (ám ngữ chỉ thai nhi) không dễ kiếm, hiện tại không có hàng. Loại này không thể để đông lạnh, phải ăn tươi mới tốt.”.

Ông chủ Lý cho chúng tôi biết, nếu thực sự muốn ăn, “có một đôi vợ chồng ngoại tỉnh đến làm thuê, hiện đang có bầu 8 tháng, vì đã có 2 con gái nên nếu lần này lại là con gái thì có thể ăn được.”

Ký giả vẫn bán tín bán nghi, điều tra phỏng vấn mất mấy tuần mà vẫn chỉ đựơc nghe mà chả được nhìn tận mắt, đã tưởng phải bỏ cuộc, nào ngờ mấy ngày sau ông Vương gọi điện báo : “Tìm được hàng rồi, tiết trời đang chuyển lạnh, có mấy người bạn đang muốn đi bồi bổ.”.

Ông ta dẫn ký giả đến Đài Sơn, tìm đến nhà hàng, ông chủ họ Cao dẫn cả đoàn chúng tôi xuống bếp “khai nhãn giới”.

Nhìn cái xác thai nhi chỉ nhỏ bằng con mèo con nằm trên cái thớt, ông Cao hơi ngượng ngùng nói : “5 tháng tuổi, hơi nhỏ một chút”.

Ông Cao nói rằng cái xác thai nhi nữ này do một người bạn kiếm được dưới nông thôn, ông ta không muốn tiết lộ giá mua vào, chỉ nói rằng giá cả phụ thuộc vào tháng tuổi và sống hay chết.

Ông Vương cũng nói thêm, ăn một bữa hết 3500 tệ, các chi tiết khác ông không quan tâm.

Ký giả nghe mọi người nói, thai nhi chết do lứu sản hoặc phá thai đựơc bán cho người môi giới khoảng vài trăm tệ, nếu là thai nhi sống đẻ thiếu tháng thì giá khoảng 2000 tệ, coi như mua làm con nuôi. Khi thai nhi được giao cho nhà hàng thì đều đã chết, còn chuyện trước đó là thai sống hay thai chết thì không quan trọng.

Bữa canh bổ này ký giả không có gan nếm thử, sau khi tham quan nhà bếp xong rất lâu không ăn đựơc gì, bèn giả vờ ốm cáo lui.

Các món ăn đều làm từ thai nhi nữ. Đây phải chăng là tác hại của chính sách một con, hay là do tập tục thích bồi bổ của người Trung Quốc?







Sưu Tầm

Phu Nu Viet Nam Duoi Ach Thong Tri Cong San (viet Thuong)

LTS. “Ăn thịt người và giết người là quốc sách của Tàu cộng và Việt Gian Cộng Sản (VGCS). Chúng coi nhân dân là tài sản của chúng, giống như trâu bò, heo gà. VGCS từ thời Hồ chí Minh còn sống, đã thành lập một Uỷ Ban, mang tên UB Bảo Vệ Bà Mẹ và Trẻ Em. Hồ đã trao cho Phạm văn Đồng, thủ tướng nguỵ quyền VGCS kiêm Chủ-nhiệm của Uỷ Ban này, trách nhiệm tìm các thai nhi để làm thuốc bổ cho Hồ và bè lũ chóp bu của VGCS. Điều này đã được nhà báo lão thành Việt Thường tố giác từ năm 1991, khi ông được tỵ nạn tại Anh quốc, trong các sách và trong bài báo có tên “Phụ nữ Việt Nam dưới sự thống trị của Cộng sản/ dưới chế độ Hồ chí Minh”. Hồn Việt Online xin giới thiệu lại bài báo nói trên đến quý độc giả. Những tội ác tầy trời như thế thì không thấy mấy tên ”dân chủ cuội” như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Chí Thiện, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang… tố cáo trong và ngoài nước!”

phỤ nỮ viỆt nam

dưỚi sỰ thỐng trỊ cỦa cỘng sẢn

Việt Thường

Hàng năm, cứ đến ngày 8-3, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại tổ chức “ngày hội” của phụ nữ. Người phụ nữ Việt Nam được đề cao trong thơ, văn, ca nhạc, điện ảnh… chính thống. Các giới chức cộng sản có thẩm quyền, từ Hồ chí Minh đến Phạm văn Đồng, Nguyễn văn Linh và nay là Đỗ Mười, đều có bài viết về vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Bởi vì lý luận kinh điển của chủ nghĩa cộng sản là chừng nào phụ nữ chưa được giải phóng (khỏi công việc gia đình) và chưa được quyền bình đẳng về chính trị với nam giới – tức quyền bầu cử và ứng cử, thì cách mạng vô sản dù có nắm được chính quyền cũng mới chỉ là thành công một phần mà thôi. Tiếc thay, cái lý thuyết nghe đầy “nhân ái” như vậy nên đã lừa được không chỉ những người nghèo khổ, những phụ nữ đã từng là trung tâm cấu trúc gia đình mà ngay những trí thức, học giả uyên bác cũng bị lóa mắt. Thực tiễn của Việt Nam hiện nay đã cho thấy rằng người cộng sản hoặc đứng trên lập trường của người cộng sản thì trong mọi lĩnh vực của xã hội đều được giải quyết giữa lý luận và thực hành hoàn toàn trái ngược nhau. Cứ xét năm mục tiêu mà Hồ chí Minh và đảng của hắn đề ra cho nhân dân và đất nước Việt Nam thì thấy:

1) Gọi là một nước Việt Nam dân chủ nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh chưa bao giờ nhân dân Việt Nam lại bị thống trị một cách độc tài, khát máu như dưới chế độ Hồ chí Minh và những người thừa kế; ghê tởm hơn cả thời Minh thuộc và Pháp thuộc;

2) Gọi là Cộng hòa nhưng thực tế Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế còn “vua hơn cả vua”;

3) Gọi là tự do nhưng thực tế người dân bị tước trọn vẹn mọi quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… trong mọi sinh hoạt xã hội, thực chất là cái gì?

Tư bản được tăng gấp đôi

Chế độ xã hội chủ nghĩa (hay cộng sản) là một chế độ độc đảng trị, lấy đấu tranh giai cấp, xóa bỏ bất công xã hội làm bình phong; lấy đàn áp, khủng bố làm phương tiện để gò ép quần chúng dưới sự thống trị của một dúm nhân vật chóp bu của đảng cộng sản; dùng các hội đoàn để quản lý quần chúng nhân dân. Cho nên khái niệm “dân chủ” và “tự do” hoàn toàn xa lạ trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Bởi vì ngay nội bộ đảng cầm quyền – tức đảng cộng sản – cũng không hề có dân chủ và tự do. Từ việc bầu ra các cấp ủy cho đến việc định ra đường lối chính sách và chỉ đạo thực hiện các chính sách ấy hoàn toàn nằm trong tay của các ủy viên bộ chính trị có thực quyền – thường là kiêm thêm ủy viên ban bí thư. Tất cả nhân sự còn lại, kể cả ủy viên ban bí thư cho đến dự khuyết trung ương chỉ là những kẻ thừa hành có quyền hạn ở các mức độ khác nhau tùy theo quan hệ “thân tình” với các ủy viên bộ chính trị có thực quyền. Ngay cả một vài nhân vật tuy đã được vào bộ chính trị nhưng cũng chỉ là cái bóng, cái tay nối dài của các ủy viên bộ chính trị có thực quyền và vẫn có thể bị quăng sọt rác nếu trót quên thân phận (như trường hợp Trần xuân Bách…). Một thí dụ điển hình về hình ảnh “dân chủ” và “tự do” của nội bộ đảng cộng sản Việt Nam là kỳ đại hội đảng lần thứ 4 (có Gobachev của Nga-xô tham dự), các đại biểu được cho học tập để bầu ban chấp hành trung ương và phải bầu thử. Bầu thử đến lần thứ 2 vẫn chưa vừa ý “lãnh đạo” nên Lê đức Thọ (trưởng ban tổ chức trung ương) và Trần quốc Hoàn (bộ trưởng công an) phải đến từng tổ hăm dọa là “ghi âm” các đại biểu khi phát biểu và lưu các phiếu bầu chuyển cho Ban bảo vệ đảng xem xét. Cho nên lần bầu thử thứ 3 đã khớp với ý kiến chỉ đạo của “trên” nghĩa là Lê Duẩn được cao phiếu nhất để từ bí thư thứ nhất chuyển danh xưng thành Tổng bí thư, hoàn toàn thắng thế phe Trường Chinh. Hai triệu đảng viên cộng sản chỉ được phép bầu (có chỉ đạo) ra hơn một ngàn đại biểu đi dự đại hội đảng – cơ quan quyền lực cao nhất của đảng (như ghi trong điều lệ), mà còn không được hưởng cái quyền “tự do” và “dân chủ” chỉ trong gần một tuần lễ đại hội thì hỏi rằng làm sao quần chúng nhân dân Việt Nam (ngay cả công nhân và cốt cán lẫn đảng viên thường) lại được phép biết đến “tự do” và “dân chủ” trong cuộc đời mình, dưới sự thống trị của một dúm đảng viên chóp bu cầm quyền!!!

Phụ nữ Việt Nam nằm trong phạm trù “quần chúng nhân dân Việt Nam” nên đương nhiên cũng không thể biết được mùi vị của các khái niệm “tự do” và “dân chủ” chừng nào nước Việt Nam còn bị CS thống trị. Bởi lý thuyết kinh điển của cộng sản coi “con người là tư bản quý nhất” (L’ home est le capital le plus précieux), nghĩa là so với các thứ khác như ruộng đất, trâu bò v.v… Còn Hồ chí Minh giải thích thêm cho đệ tử rằng: “nhân dân là vô tận”. Chính vì con người là “tư bản quý nhất”, vì đó là nguồn gốc sinh ra mọi loại tư bản khác, mọi giá trị khác cho nên người phụ nữ Việt Nam được Hồ chí Minh và đảng của hắn lôi ra khỏi vị trí “nội tướng” trong gia đình và được ban cho quyền bình đẳng như nam giới, nghĩa là làm cái việc như hiến pháp của nhà nước cộng sản ghi rằng: “Có nghĩa vụ và quyền lợi lao động”. Trong chế độ cộng sản, dù có tô màu bằng mọi uyển ngữ thì thực tế cho thấy thân phận người dân chỉ là “nô lệ” của tập đoàn cộng sản chóp bu cầm quyền. Mọi người chỉ được phép ước mơ và thực hiện cho sự hy sinh vì sự nghiệp của đảng và “bác” – tức một dúm chóp bu cầm quyền và Hồ chí Minh, chứ không được phép bàn bạc việc nước, được ước mơ ngồi vào vị trí cầm lái con tàu Tổ quốc, được xây dựng hạnh phúc cho đồng bào của mình, cho gia đình của mình và cho bản thân mình. Cho nên thực chất của cái mà Hồ chí Minh và đảng của hắn gọi là “giải phóng phụ nữ” chính là tước đoạt quyền xây dựng hạnh phúc gia đình và cá nhân của người phụ nữ, đưa lực lượng phụ nữ – chiếm ít ra là một nửa dân số – vào phạm trù “tư bản quý nhất” để tăng “tư bản quý nhất” đó lên gấp đôi một cách “nhẹ nhàng”. Như thế là chỉ cần một chữ ký ban bố sắc lệnh “giải phóng phụ nữ” và thi hành “luật hôn nhân và gia đình”, Hồ chí Minh và các đệ tử đã nhân đôi được lực lượng có “nghĩa vụ và quyền lợi lao động” để “xây dựng và hoàn thiện chủ nghĩa xã hội”, nghĩa là – xây dựng và hoàn thiện lối hưởng thụ vương giả – cho Hồ chí Minh và đồng bọn (như xây lăng cho cả cha con Hồ chí Minh; như bắt dân lục tỉnh đi lao động nghĩa vụ đào đất lấp sông xây biệt thự cho Lê Duẩn ở An Phú, Thủ Đức…). Còn một vấn đề nữa là cộng sản và chiến tranh như bóng với hình. Bởi chiến tranh là sức sống của cộng sản. Làm chiến tranh để cướp chính quyền, để củng cố chính quyền, để mở rộng bờ cõi thống trị. Cho nên lôi lực lượng phụ nữ ra khỏi tổ ấm gia đình, ra khỏi chức năng người mẹ, người vợ để trở thành lực lượng chủ yếu trong sản xuất và phục vụ sản xuất – tức là cấu thành nền tảng cho cuộc sống hưởng thụ của tập đoàn cộng sản cầm quyền – còn nam giới sẽ được sử dụng chủ yếu cho mục đích chiến tranh bành trướng, núp dưới cái tên mỹ miều là “cách mạng vô sản toàn thế giới”.

Phụ nữ tham chính

“Cơ cấu thành phần” là khái niệm về tổ chức, một quái thai “dân chủ” do chế độ xã hội chủ nghĩa (hay cộng sản) đẻ ra. Nghĩa là từ bộ máy của đảng (cộng sản) cho đến quốc hội (bù nhìn), chính phủ, các đoàn thể và thậm chí đến cả đoàn chủ tịch các hội nghị (kể cả cấp tổ), các cuộc mít-tinh v.v… thì về nhân sự phải đủ các thành phần nam, nữ, già, trẻ, người sắc tộc, quân sự, dân sự, công nhân, nông dân v.v… Nói theo ngôn từ của cán bộ tổ chức (cộng sản) là phải “đủ mâm đủ bát”. Trò hề này là sáng kiến của Hồ chí Minh nhằm “cụ thể hóa” cái gọi là “sự đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân xung quanh đảng (cộng sản) và bác (Hồ)”! Và, phụ nữ bao giờ cũng được Hồ chí Minh và những kẻ kế thừa hắn quan tâm cho “ngồi cạnh”, cho “chụp ảnh chung” – biểu hiệu cho việc “giải phóng” và “được bình đẳng” của phụ nữ!(?) Đó cũng là sự cụ thể hóa cái gọi là “dân chủ tập trung” của chế độ xã hội chủ nghĩa của Hồ chí Minh và những kẻ kế thừa hắn.

Người phụ nữ trong chế độ Hồ chí Minh vì đã được “giải phóng” và được “bình đẳng” nên đương nhiên có đại biểu của giới mình tham chính, có đại biểu của mình trong cơ quan lãnh đạo của các đoàn thể được đặt tên là “đoàn thể quần chúng”. Điểm qua những nhân vật được cho nổi lên, ta thấy có: Nguyễn thị Thập, Hà thị Quế, Đinh thị Cẩn, Trương thị Mỹ, Nguyễn thị Định, Nguyễn thị Bình, Nguyễn thị Hằng, Hồ thị Bi, Nguyễn thị Chiên, Cù thị Hậu, Lê thu Trà, Kim Hạnh…

Nếu tìm hiểu nguyên nhân sự nổi lên của những người đó thì thật là… buồn cho chị em phụ nữ. Bởi vì, không thiếu gì người vừa có lòng yêu nước vừa có trí thức nhưng chỉ được dùng có tính chất đối phó với thời cuộc, một thứ bù nhìn trong sân khấu “dân chủ, hòa hợp, hòa giải”. Đó là trường hợp của các bà như Trịnh thục Viên, ủy viên ban thường vụ của quốc hội khóa 1; Phan thị An (nguyên hiệu trưởng trường nữ trung học Hoài Đức, Hà-nội từ trước 1945) phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; bác sỹ Vũ thị Chín, phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ; bác sỹ Nguyễn thị Ngọc Phượng, phó chủ tịch (khóa 8); các anh hùng quân đội Nguyễn thị Chiên, Hồ thị Bi v.v… thì được dùng làm cái mồi “vinh hoa rởm” để lừa chị em cố mà hy sinh thật nhiều cho “đảng và bác”. Còn lại, số có quyền thực sự ở các mức độ khác nhau là ai?

- Đó là Hà thị Quế, ủy viên trung ương đảng từ khóa 3, từng giữ các chức phó ban kiểm tra trung ương đảng, phó ban tổ chức trung ương đảng, hội trưởng hội liên hiệp phụ nữ xuất thân từ du kích Yên Thế, từng là giao liên đặc biệt và bộ hạ thân tín của Trường Chinh.

- Đó là Đinh thị Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương đảng khóa 3, đã giữ các chức thứ trưởng thứ nhất kiêm bí thư đảng đoàn bộ y tế (thời kỳ bác sỹ Phạm ngọc Thạch làm bộ trưởng) rồi phó chủ nhiệm phụ trách thường trực ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em, xuất thân là cấp dưỡng (tức đầu bếp) của Hồ chí Minh.

- Đó là Trương thị Mỹ, phó chủ tịch tổng công đoàn Việt Nam (thời kỳ Hoàng quốc Việt làm chủ tịch), xuất thân là cần vụ (tức hầu phòng) của Hồ chí Minh.

- Đó là Lê thu Trà, phó chủ nhiệm thường trực ủy ban thiếu niên và nhi đồng, vợ thiếu tướng Lê Liêm, từng là chủ nhiệm tổng cục chính trị (trước Nguyễn chí Thanh), có bồ đỡ đầu là Nguyễn Côn, bí thư trung ương đảng kiêm phó thủ tướng (thời kỳ Phạm văn Đồng làm thủ tướng).

- Đó là Nguyễn thị Định, nhờ cặp bồ với trung tướng Trần Độ mà được thoát ra ẩn số, đẩy lên chức phó tư lệnh lực lượng vũ trang miền Nam (của CS trước 1975), được cho làm ủy viên trung ương đảng từ khóa 4 và thay Hà thị Quế trong chức chủ tịch hội phụ nữ.

- Đó là Nguyễn thị Bình, vợ lẽ của một đốc phủ sứ, ngán cảnh “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” nên được Nguyễn thị Thập giác ngộ theo cộng sản, bỏ chồng có cưới xin lấy một đệ tử của Nguyễn thị Thập và từ đó – nhờ có học – trở thành thư ký riêng của Nguyễn thị Thập (chủ tịch đầu tiên của hội phụ nữ, luôn cập bồ với Hồ và được Hồ cho chức ủy viên trung ương đảng từ khóa 2); được Thị Thập giới thiệu sang giữ chức vụ phó vụ lễ tân bộ ngoại giao. Nhờ ở vị trí này Thị Bình được bộ trưởng ngoại giao lúc đó là Xuân Thủy, bí thư trung ương đảng, để mắt tới, nên khi Xuân Thủy sang hội đàm Paris đã “lôi” Thị Bình đặt vào cái ghế bộ trưởng ngoại giao của Mặt trận giải phóng, đá Trần bửu Kiếm về vườn, để được gần nhau bàn bạc việc “thơ văn” và việc… nước. Từ đó Thị Bình được lên như diều và nay là phó chủ tịch Hội đồng nhà nước! (mặc dù nhà xuất bản quân đội cộng sản có cho in một cuốn sách phơi bày toàn bộ mánh khóe và sự sa lầy của Thị Bình trong mánh mung, tham nhũng khi giữ ghế bộ trưởng giáo dục).

- Đó là Nguyễn thị Hằng, xuất thân từ xã viên dệt chiếu ở hợp tác xã dệt chiếu cói thị xã Thanh Hóa. Đúng ngày máy bay Mỹ đánh phá thị xã Thanh Hóa, cô dân quân Nguyễn thị ằngHằngHằng bị thương ở ngực, cô dân quân Nguyễn thị Tuyển mặc dù nhỏ yếu nhưng đã vác được những thùng đạn nặng hàng tạ tiếp tế cho pháo binh và được đơn vị pháo binh tuyên dương công trạng. Báo Tiền phong (Hà nội) nêu gương cô Nguyễn thị Tuyển – Phóng viên ảnh của báo Tiền phong là Mai Nam đi “thực tế” Thanh Hóa thấy Thị Hằng cao đẹp, nét mặt như lai, cũng bị thương, chụp lên ảnh dễ “ăn khách” hơn nên đã chụp và đưa hình Thị Hằng lên… các báo. Nhờ đó Thị Hằng đã… lọt vào “mắt xanh” của bí thư trung ương đảng, phụ trách trưởng ban đối ngoại trung ương đảng, kiêm bộ trưởng, kiêm phó chủ tịch và tổng thư ký ủy ban thường vụ quốc hội Xuân Thủy. Thế là Thị Hằng được Xuân Thủy đưa vào chức ủy viên ủy ban đối ngoại của quốc hội kiêm ủy viên ban bí thư đoàn thanh niên lao động (cộng sản) Hồ chí Minh; được Xuân Thủy đề cử vào danh sách ban chấp hành trung ương đảng khóa 4 (nhưng Thị Hằng xin rút tên), được đưa sang giữ ghế thứ trưởng lao động và xã hội (thời kỳ này bị tố giác là buôn lậu thuốc lá ngoại) và khóa đại hội đảng kỳ 7 vừa xong được “trúng” ủy viên trung ương đảng chính thức!!!

- Còn Kim Hạnh, cô sinh viên của trường đại học Sài-gòn nhờ chống quốc gia trốn vào bưng làm cấp dưỡng (tức đầu bếp) cho Mai chí Thọ nên đã được giữ ghế tổng biên tập báo Tuổi trẻ (Sài-gòn)! Nay thì Kim Hạnh mất chức vì cho đăng lại tin của báo Nhân dân rằng Hồ chí Minh từng có vợ (nghĩa là không phải trai tân như Hồ và đảng của hắn tự hào), nhưng ở Việt Nam thì ai cũng biết đó là cái “cớ rẻ tiền” còn sự thực là phe Mai chí Thọ lung lay thì loại tầm gửi như Kim Hạnh tất phải rụng.

Qua những dẫn chứng về “người thật việc thật” kể trên, có thể kết luận rằng số phụ nữ tham chính trong chế độ cộng sản ở Việt Nam từ trước đến nay, loại trừ một số bù nhìn chắp vá cho cái áo rách “dân chủ”, hầu hết là kẻ ăn người ở của vài viên chức cộng sản chóp bu hoặc là “nhân tình nhân ngãi” của những nhân vật cộng sản có thế lực.

Từ Hồ chí Minh cho đến các đệ tử gần gũi của hắn là đều lớn tiếng kêu gào rằng trong chế độ cũ (phi xã hội chủ nghĩa), người phụ nữ là “đồ chơi”, là “đồ trang sức” cho đàn ông và giai cấp thống trị. Buồn thay, Hồ chí Minh và đảng của hắn đã “giải phóng” phụ nữ khỏi cái chế độ cũ ấy để bước vào chế độ Hồ chí Minh với thân phận vừa là “đồ chơi” vừa là “đồ trang sức” vừa là “nô lệ”.

Nữ nô lệ của thế kỷ 20

Ngày ban hành bộ luật “Hôn nhân và gia đình”, Hồ chí Minh đắc ý tuyên bố rằng thể chế chính trị ở Việt Nam là tiến bộ nhất vì là nước đầu tiên ở khu vực á-Phi đã xóa bỏ chế độ đa thê. Nhưng cũng chính Hồ chí Minh đã giới thiệu (không qua bầu bán) Lê Duẩn thay hắn giữ ghế bí thư thứ nhất của trung ương cộng đảng Việt Nam có lẽ vì… Lê Duẩn cùng lúc ba (3) vợ. Cũng chính hắn bổ nhiệm Lê đức Thọ cùng lúc hai (2) vợ, vào chức vụ trưởng ban tổ chức trung ương cộng đảng. Cũng chính hắn đưa ra danh sách bộ chính trị trong đại hội đảng cộng khóa 3 (1960) những nhân vật có vợ lẽ hoặc bồ nhí như Phạm Hùng (2 vợ), Hoàng văn Hoan (bồ nhí tên là Hoa, hiện ở Pháp); những nhân vật trong ban bí thư như Tố Hữu (bồ nhí), Nguyễn văn Trân (bồ nhí), Nguyễn Côn (bồ nhí), Văn tiến Dũng (bồ nhí), Xuân Thủy (bồ nhí); chủ tịch tổng công đoàn, kiêm viện trưởng viện kiểm sát tối cao, kiêm chủ tịch đoàn chủ tịch Mặt trận tổ quốc là Hoàng quốc Việt (bồ nhí). Được phép bỏ vợ già lấy vợ trẻ như Trần xuân Bách, Nguyễn đức Lạc, Cù huy Cận… Cho phép lấy thêm vợ lẽ như Trần huy Liệu, Nguyễn khánh Toàn, Hoàng minh Giám… Phải chăng những đảng viên thân cận của Hồ vẫn được phép đa thê? Và, thực sự trong con mắt của Hồ chí Minh và đảng của hắn, phụ nữ vẫn là “đồ chơi”… rẻ tiền nhất. Vì, hắn cũng hay quất ngựa truy phong.

Sau khi được ăn hai cái bánh vẽ của Hồ chí Minh là “được giải phóng” và “được bình đẳng”, người phụ nữ Việt Nam bị khoác vào cổ một lô gông xiềng “3 đảm”, “tay búa tay súng”, “tay cày tay súng”.

Trong “3 đảm” có hai khoản là “đảm đang việc nước” và “đảm đang việc xã hội”, nghĩa là thay người đàn ông làm lính và nhận gánh nặng lao động sản xuất trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và kinh tế quốc phòng cũng như sức nặng của sưu dịch – tức một năm tự túc lương thực đi dân công 3 tháng hoặc gia nhập các đội thanh niên xung phong thường trực.

Người phụ nữ xưa kia làm nhiệm vụ thờ chồng, nuôi con, vun vén gia đình ở vị trí “nội tướng” thì nay được Hồ chí Minh và đảng của hắn cho làm cùng lúc vừa là lính vừa là nông hoặc công nhân, vừa là phu phen tạp dịch.

Không chỉ ở lãnh vực sản xuất mà ngay trong lĩnh vực nghệ thuật, phụ nữ cũng được sử dụng như những nữ nô lệ của giới chức cầm quyền chóp bu. Các “cô văn công” tài sắc thường để mua vui cho “lãnh đạo” khi mệt mỏi, ốm đau và được dùng trong một số mưu đồ chính trị. Thí dụ: nữ ca sỹ Khánh Vân được theo Hồ đi n-độ chỉ vì nghe nói thủ tướng Nerhu và con gái là Indira Gandhi thích giọng ca của Khánh Vân. Xong việc, Khánh Vân đau ốm bị bịnh tâm thần cũng chẳng được chữa chạy và chết thật thảm khốc. Thúy Quỳnh (nay là giám đốc nhà hát nghệ thuật) là diễn viên múa, có chửa con so đã được năm tháng mà chỉ vì yêu cầu của Fidel Castro muốn có đoàn múa Việt Nam (cộng sản) nhân quốc khánh Cuba nên nhà cầm quyền Hồ chí Minh đã buộc Thúy Quỳnh phải “phá thai” và chỉ được nghỉ 10 ngày sau khi làm “đọa thai nhân tạo”, đã phải lên đường đi Cuba “phục vụ nước bạn”! ái Loan (chị ái Vân) một nghệ sỹ cải lương tài sắc, trước ngày cưới bị bắt đi vét bùn ở sông Tô Lịch do cống thành phố chảy ra nên bị chết vì bị uốn ván. Ca sỹ Tường Vi của đoàn văn công Tổng cục chính trị, người có giọng hát quyến rũ đã “được” anh chàng đại úy Koong-Le của Lào mê chết mê chết mệt. Mặc dù Tường Vi đã có chồng con, nhưng nhà cầm quyền cộng sản Hà-nội lúc nào cũng định “ghép đôi” để lợi dụng Koong-Le. May mắn sao đại úy một bước lên trung tướng Koong-Le bị ngã ngựa chính trị! Nguyễn thị Hằng (nay là ủy viên trung ương cộng đảng) được một đô đốc hải quân Nga-xô có “tình cảm đặc biệt” nên được bổ sung vào đoàn quân sự đi xin vũ khí về giết dân và đặc biệt là được “đi trước” và “về sau” đoàn.

Để chắp vá thêm cho tấm bình phong che đậy bộ mặt bán nước hại dân, Hồ chí Minh đích thân viết thư mời bà Hoàng thị Thế con gái cụ Đề Thám, ở Pháp về (1960). Sau khi chụp ảnh, quay phim, báo chí trong và ngoài nước đưa tin đã tới mức “quá đầy đủ” thì bà Hoàng thị Thế bị đưa về “lưu đày” ở Bắc-giang. Cũng may chính quyền ở tỉnh và huyện hầu hết là binh lính hoặc con em binh lính cụ Đề Thám nên bà Thế không bị khó khăn lắm. Thế là Hồ cho lôi bà về Hà-nội, ở một phòng thuộc lầu 2 nhà tập thể trong ngõ Khâm Thiên, tháng tháng ra Mặt trận tổ quốc lĩnh một số tiền vừa đủ khỏi chết đói. Bà Thế xin trở lại Pháp không được và đã chết già trong cô đơn và nghèo khổ.

Ngay “được” làm vợ của các “ông lớn” thì nhiều phụ nữ cũng vẫn chỉ như “con ở”; chẳng có chút bình đẳng nào trong quan hệ vợ chồng. Thí dụ như vợ chồng Trường Chinh, trong khi hắn ngồi ăn cơm thì bà vợ mặc áo dài đứng hầu cơm. Hay như Lê Duẩn, bà vợ cả được cho qua “gánh việc nước” ở sứ quán Việt Nam tại Bắc kinh (Trung cộng). Còn Xuân Thủy ngự tọa trong tòa vi-la liền tường với trường Nguyễn Trãi (cũ) ở đường Lý Thường Kiệt, sang trọng tiếp các Nguyễn thị Bình, Nguyễn thị Hằng v.v… để bàn “việc nước” ở nhà trên; còn bà vợ già răng đen, ăn trầu thuốc, lấy hắn ta từ khi Xuân Thủy còn thái dao cầu, tán thuốc Bắc ở ga Đa Phúc thì… ăn ngủ ở nhà ngang, chỗ xưa chủ Tây cho bồi bếp và chị hai ở! Nữ ca sỹ Diệu Thúy, giọng hát trẻ đang lên, vừa tốt nghiệp trường đại học âm nhạc Hà-nội, trong chuyến đi Chí-lợi – thời kỳ A-gien-đê cầm quyền – với bí thư thứ nhất đoàn thanh niên lao động (cộng sản) Hồ chí Minh là Vũ Quang, bị “ăn cơm trước kẻng” (tức ngủ trước khi cưới) khi ghé qua La Habana; về làm vợ Vũ Quang, không còn được hát “phục vụ” nhân dân nữa mà ngày ngày cơm nước, giặt giũ và tưới nước cho những giỏ phong lan do các chi đoàn thanh niên trong quân đội và thanh niên xung phong ở Trường sơn gửi biếu. Bà vợ già của Trần xuân Bách – là đảng viên lão thành – cùng hoạt động từ thời kỳ bí mật cho đến lúc bật mí, chồng làm chánh văn phòng trung ương đảng (cộng), chiếm một tòa vi-la đồ sộ tại Hà-nội, có kẻ hầu người hạ còn đông hơn của “tư sản mại bản”, lại có cả một cô “đầu bếp” mới 20 tuổi, đã tốt nghiệp trường trung cấp nấu ăn, phục vụ nhưng bà vợ già vẫn phải ở Nam-định làm “việc nước” và “xã hội”. Đùng một cái, từ bộ chính trị “phôn” về Nam Hà lệnh cho bí thư tỉnh ủy là Lê Điền phải cho tòa án tỉnh xử ly hôn khẩn cấp cặp vợ chồng “vừa là đồng chí vừa là phu thê” ấy để Trần xuân Bách kịp cưới cô đầu bếp 20 tuổi – bằng 1/3 tuổi của ông Bách – kẻo con biết bò vào dịp đầy năm cưới của mẹ.

Những thí dụ về “người thật việc thật” hay “con người mới xã hội chủ nghĩa” đó kể cả đời cũng không hết. Trên đây tạm dẫn chứng như là nền của bức tranh của ngày hội được “giải phóng” và “bình đẳng” của phụ nữ Việt Nam do “công ơn” Hồ chí Minh và cái đảng mafia của hắn đem lại.

Nhân dân là vô tận

Đầu đề trên là khẩu hiệu đầy “sáng tạo” của chính Hổ chí Minh khi phát triển khái niệm kinh điển của chủ nghĩa cộng sản rằng “người là tư bản qúy nhất”. Chính vì thế, Hồ chí Minh đã tung ra lệnh cho đảng của hắn là “dù có phải đốt cháy Trường sơn” hay “tát cạn biển đông” – một dạng khác của tư bản (bình thường) thì cũng phải giải phóng (tức thôn tính) miền Nam Việt Nam (còn hàm ý cả Lào và Cam-bốt) để thu được “tư bản quý nhất” là “quần chúng nhân dân” trong đó bao gồm “quần chúng phụ nữ”. Biểu hiện thành chính sách cụ thể cái tư tưởng “tàn bạo, khát máu” đó của họ Hồ. Trước năm 1975, phụ nữ ở cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều bị lợi dụng theo những phương thức khác nhau.

miền Bắc, phụ nữ vừa là lính; vừa là lao động chính thay trâu cày bừa trên đồng ruộng, thay máy trong các công trường xí nghiệp; vừa là phu đi đắp đường, khẳn hoang, xây dựng các công trình phục vụ quân sự, hoặc có thời hạn – mỗi năm 3 tháng phải tự túc lương thực, hoặc phải thường trực – tức thanh niên xung phong. Người phụ nữ phải làm tất cả những việc nặng nhọc nhất, hoàn toàn không phù hợp với giới tính; bị bóc lột sức lao động tàn khốc dưới cái trò thi đua “làm thay cho đồng bào miền Nam”, làm thay cho “anh Trổi, chị Quyên” để phải lao động cả 3 ca/ngày và hoàn toàn không có ngày nghỉ suốt 3 tháng đi sưu như vậy trong mỗi năm. Còn nữ thanh niên xung phong? Được nuôi cơm… độn, một năm 2 bộ quần áo, được đi phép 10 ngày/năm, được lương tháng đủ ăn… những 2 tô phở theo giá mậu dịch quốc doanh (nếu là nam giới thì chỉ đủ tiền một lần hớt tóc). Điều đáng nói là chị em phải lao động không kể giờ giấc, hoàn cảnh, địa hình, tình trạng sức khỏe. Nghĩa là ngày kinh nguyệt cũng phải lội sông, ngâm bùn, gánh nặng; ốm bệnh cũng phải lao động; lao động không kể ngày đêm: từ làm đường ở Trường sơn cho đến phá bom nổ chậm; từ tải thương cho đến gánh vác súng đạn. y thế mà trong thực tế người nào cũng phải làm đơn “xin hiến” 10 ngày phép năm cho “đảng” và “bác” cho đến khi “cách mạng thành công” và còn thi đua “mặc áo cũ không lãnh áo mới” để tiết kiệm tiền của vào việc “đánh Mỹ-Ngụy”! Mỗi tháng còn vài lần nhịn ăn lấy gạo “giúp đồng bào miền Nam ruột thịt” (vì như sách, truyện của đảng cho biết: miền Nam đói khổ đến nỗi lính Mỹ còn phải “cưỡi trực thăng đi cướp từng bao gạo” và nhà buôn thì trộn hạt ny-lông vào gạo để bán)!!! Bị chôn vùi cả tuổi trẻ trong rừng sâu, bị lừa đảo niềm tin, bị tước đoạt sức khỏe và hạnh phúc, bị làm “trò giải khuây” cho những người lính “sinh Bắc tử Nam” trên đường hành quân… nên hầu hết nữ thanh niên xung phong bị bệnh phụ khoa, bị rong kinh, bị sốt rét rừng, bị bệnh đường ruột, bị tâm thần… mà không được chữa chạy, bị… phá thai chôn gốc cây rừng v.v… Có ai thoát về làng thì cũng… quá lứa lỡ thì! Hồ chí Minh kêu gọi thanh niên rằng: “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” cũng như bài “Thanh niên xung phong ca” có câu:

“Bác Hồ dạy chúng ta

Không có việc gì khó

Đào núi và lắp biển

Quyết chí cũng làm nên”

Nhưng chỉ có “thơ ghế đá” mới nói đúng số phận của nữ thanh niên xung phong:

“Em là thanh niên xung phong

Đắp đường, tải đạn, long đong tháng ngày

Đảng nuôi hai bữa một ngày

Cơm độn ba bát, muối đầy lòng tay

áo quần hai bộ đổi thay

Một năm đi phép mười ngày… “có lương”

Cho nên chẳng có người thương

Xuân tình chợt gặp giữa đường với nhau

Nói ra bảo kể khổ đau

Thời gian thấm thoát bước mau về già

Sốt rừng da mái, mắt lòa

Đảng cho giải ngũ về nhà ăn rơm!

Tuổi xuân chôn chốn Trường sơn

Nhiều cô thai nạo vứt chân cây rừng

Về làng chân bước ngập ngừng

Tương lai mờ mịt, gối trùng, lưng cong

Biết khôn đã chót vào tròng!!!

Hai chính sách nữa rất tàn bạo của Hồ chí Minh và cái đảng mafia của hắn đối với phụ nữ miền Bắc Việt Nam (kể cả một số vùng trong Nam gọi là “vùng giải phóng”) là đem phụ nữ làm cái mồi câu, làm vật khen thưởng mua bán (nhất là phụ nữ ở nông thôn): một là tổ chức theo lối cưỡng bức để buộc nữ thanh niên lấy chồng là thương bệnh binh – nhất là những người lính bị tàn phế nặng – làm chồng mà còn phải làm đơn tình nguyện “lao động nuôi chồng” không nhận một thứ trợ cấp nào. Chính sách tàn bạo này đã là nguyên nhân của biết bao vụ “vợ đầu độc chồng” cho thoát nợ đời hoặc người vợ đành… tự tử chết mà không nhắm được mắt. Hai là tổ chức cưới cho những thanh niên bị bắt lính trước khi nhập ngũ vài ngày nhằm trút gánh nặng lao động bên gia đình người tân binh lên đầu người phụ nữ, nhằm lấp lỗ hổng trong luật nghĩa vụ quân sự về khoản “miễn đi lính cho những thanh niên là con một trong gia đình”. Nhà cầm quyền Hồ chí Minh tổ chức lấy vợ cho thanh niên đến tuổi bắt lính và lý luận rằng: “Khi người thanh niên con một có vợ thì không còn là con một nữa vì vợ cũng là con trong gia đình nên không được miễn lính như luật nghĩa vụ quân sự qui định”!!! Còn nữa, đó là ràng buộc tình cảm người lính với “quê hương” để yên tâm đi chiến đấu cho “sự nghiệp của đảng và bác” vì cha mẹ đã có vợ “đảm đang” (khoản thứ 3 trong đường lối “3 đảm” của phụ nữ), hệt như ngón võ “tập kết ra Bắc” của năm 1954. Người phụ nữ vừa kịp hưởng tuần trăng mật với chồng nay sống trong sự chờ đợi còn nhức nhối hơn Pénéllope chờ chồng sau cuộc chiến thành Troie, bị cột cho sợi dây “vợ bộ đội cụ Hồ” để trói vào guồng máy “lao động quên mình” vì nước vì chồng! Chính nó là nguyên nhân đẻ ra bao chuyện “bi hài” của xã hội miền Bắc Việt Nam dưới chế độ Hồ chí Minh, cứ tưởng “như đùa”. Một thí dụ: bệnh viện C (bệnh viện phụ sản đầu ngành của miền Bắc Việt Nam) ở Hà-nội được một bệnh nhân từ Hà-bắc chuyển tới. Bác sỹ Thìn phó giám đốc bệnh viện – đã sống từ chế độ Bảo Đại, không thể nào ngạc nhiên hơn được khi biết nguyên nhân bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng “chỗ kín” là do người chồng bệnh nhân, một tân binh lấy vợ được 3 ngày thì phải “ra trận”, vì quá ghen đã lấy kim chỉ khâu “chỗ ấy” của vợ lại (chắc vì chưa biết đến loại “thắt lưng trinh tiết” của nước Nga xưa)!!!

Điều đáng lưu ý nữa là chính cái cảnh “chồng Nam vợ Bắc” khổ hơn cả vợ chồng Ngâu (ít ra một năm được gặp nhau một lần) cộng với đời sống kinh tế khó khăn cùng cực và quyền sinh quyền sát của các cấp ủy đảng nên chị em vắng chồng trở thành đàn gà con trước cấp ủy đảng quạ. Nạn chửa hoang, phá thai từ nông thôn đến thành thị là chuyện “quá bình thường”. Người phụ nữ đi phá thai được “đảng và bác” bảo vệ tuyệt đối bí mật (như bí mật quốc phòng). Các cơ sở nạo thai chỉ biết nạo thai theo yêu cầu của người nạo, không cần một giấy giới thiệu nào, không được hỏi họ tên và “tác giả” của thai nhi. Sáng vào nạo, chiều ra về, cứ như đi lao động “thông tấm”, hàng xóm có tọc mạch cũng đành chịu. Các bào thai nạo ra được chế biến thành thuốc bổ, nghe nói còn hơn “lợn hà nàm”. Đó cũng là nguồn “lấy thu bù chi” của cơ sở nạo thai, tất cả trực thuộc ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em do chính thủ tướng Phạm văn Đồng làm chủ nhiệm và Đinh thị Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương cộng đảng từ khóa 3, xuất thân là đầu bếp của Hồ chí Minh, làm phó chủ nhiệm phụ trách thường trực. Thế là dưới chế độ Hồ chí Minh, tục “người ăn thịt người” được khuyến khích như quốc sách và phụ nữ ngoài chức năng là “đồ chơi”, là “đồ trang sức”, là “nô lệ” lại còn có nhiệm vụ “sản xuất” thêm “chất đạm” – tức thai nhi – cho xã hội!

Còn phụ nữ ở miền Nam thì sao? Tất nhiên Hồ chí Minh và cái đảng mafia đã triệt để lợi dụng thể chế chính trị ở miền Nam trước 1975 có lỏng lẻo và nhiều sơ hở, nghĩa là có việc độc tài, độc diễn, có việc dân chủ quá trớn, cùng với sự “nhẹ dạ” và “lòng yêu nước” của phụ nữ để lập ra những đội quân “tóc dài”. Những chị Quyên (vợ anh Trổi mà nhà thơ cung đình Tố Hữu “lộn” tên làm thơ khi gọi là “Trôi” lúc gọi là “Trồi”!), chị Tạ thị Kiều, chị Trần thị Lý v.v… được đề cao đến mức Tố Hữu hạ bút vẽ tàu bay… giấy cho chị Lý:

“Em là cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi?

Tóc của em hay là mây là suối?...”

Nhưng cũng chị Lý ấy sau 1975 về ở Đà-nẳng đến tận 1991 vẫn khổ như ăn mày vì bệnh tật, lương thấp, chồng cũng là thương binh. Đảng bận hưởng thụ quên đã đành, ngay chính nhà thơ kiêm chính trị và kinh tế gia (loại 3 xu) Tố Hữu cũng quên luôn sau khi lĩnh một đống tiền nhuận bút về bài thơ. Chỉ có chị Quyên, nhờ được vào “bưng” ở với “chú” Nguyễn hữu Thọ và “chú” Trần bạch Đằng, nên được phóng viên báo Cứu quốc (Hà-nội) là Thái Duy đi công tác B (tức xâm nhập miền Nam) đổi tên thành nhà văn giải phóng Trần đình Vân, phỏng vấn viết một chuyện ngắn “người thực việc thực” được đích thân Tố Hữu đặt tên truyện là “Sống như anh”, nên sau 1975, vào lúc anh Trỗi được tạc tượng và được đặt tên cho đường phố Sài-gòn, chị Quyên được các chú kiếm cho một tấm chồng khác và được cho ngồi ghế giám đốc nhà hàng Vĩnh Lợi (đường Hàm-nghi, quận nhất, Sài-gòn). Đúng là có số “quý nhân phù trợ”, mệnh “giáp thọ giáp đằng”!

Còn số phận đội quân tóc dài? Xin dành để bạn đọc tìm trong truyện ngắn “Tượng đài” của Hoàng thiếu Phủ đăng trên tờ “Tuổi trẻ cười” hiện nay của Sài-gòn, rất đầy đủ.

Ngoài cái số đội quân tóc dài đó ra, phụ nữ miền Nam Việt Nam có chồng là sĩ quan, binh lính, nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng hòa v.v… bị lừa đi tù (học tập cải tạo) cũng bị đảng mafia của họ Hồ theo đúng sách của đảng trưởng để “lợi dụng triệt để”. Đó là đem chị em ra làm phần thưởng cho tù nhân. Tất cả các trại tù của cộng sản Việt Nam đều áp dụng chính sách rằng tù nhân nào “cải tạo tiến bộ” sẽ được phép “ngủ với vợ mình 24 giờ, 48 giờ hoặc hơn” – tùy theo mức độ tiến bộ hoặc số lượng tiền đút lót công an. Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ chỉ có cái đảng mafia của Hồ chí Minh mới đủ vô liêm sỉ là đem vợ tù ra làm phần thưởng cho tù, chưa kể sự bẩn thỉu thú vật của lũ công an là chọc tường để rình xem vợ chồng tù ngủ với nhau để kháo thành chuyện cười của bọn chúng và trêu chọc người tù được ngủ với vợ mình!...

Sau sự “đứt phim” năm 1975, miền Nam được “hoàn toàn giải phóng” nên phụ nữ miền Nam được đi vào vết xe đổ của phụ nữ miền Bắc, nghĩa là vừa là “đồ chơi” vừa là “đồ trang sức” vừa là “nô lệ”. Nam thanh niên cũng được vét vào lính để “giải phóng Cam-bốt”, để khi trở về hoặc “lê trên nạng gỗ” hoặc nằm trong bệnh viện “chờ” một chị em nào đó dại dột nghe lời đảng “cõng về làm chồng… hờ”, may mắn lắm thì được hỏa thiêu cho vào lọ sành đem về cho gia đình, hoặc thất nghiệp đi lang thang ngoài phố “chiêm ngưỡng” các anh chị hải quan, thủy thủ tàu viễn dương, công an các loại và con cái giới quan lại đỏ nhậu nhẹt và khoe bộ cánh hợp thời trang! Và, phụ nữ lại gánh toàn bộ sức nặng của mọi loại hình sản xuất và phục vụ sản xuất của xã hội.

Con đường phụ nữ miền Nam phải đi sau lá cờ đỏ sao vàng hệt như phụ nữ miền Bắc trước đây, đã ai oán rằng:

“Chồng bị bắt lính phương xa

Mẹ cha cải tạo chết già rừng sâu

Ngày cày thay kiếp ngựa trâu

Đêm làm cái nệm để hầu quan viên:

- Đảng ủy, chủ tịch ưu tiên

Trưởng công an xã tiếp liền theo sau

ơn đảng, nghĩa bác dày sâu

Nhân dân thành đĩ, thành trâu hết đời

Thấu tình chăng, hỡi Đất, Trời?”

Nhiều chị em, chồng bị lừa đi tù (cải tạo), đã phải chịu sự cưỡng ép bán thân cho quan lại đỏ để yên thân nuôi con và có thể đi thăm nuôi chồng, như trong vụ án Hai Hiệp ở Đồng-nai, hay như bà chủ tiệm phở “Thủy tiên” ở phố Tự Do (Đồng khởi) Sài-gòn với tên Ngọc, chủ tịch phường… Ngay một diễn viên điện ảnh nổi tiếng, từng bị ghép là nhân viên CIA của Mỹ, cũng đành đến nhà riêng “chú” Cao đăng Chiếm (thứ trưởng cộng an, phụ trách khu vực miền Nam) cho nên mới được “chú Chiếm” viết lá thư tay cầm ra Hà-nội gặp riêng “chú” Phạm Hùng (bộ trưởng công an), nhờ vậy cô diễn viên có cái phận “Thúy Kiều” đó mới được Hồ tôn Hiến (của cộng sản chứ không phải của cụ Nguyễn Du) đặc cách cho thăm cả chồng sau và… chồng trước. Hơn thế, ông chồng sau còn được thả sớm hơn cả thượng sỹ canh cửa sân bay Tân Sơn Nhất và được… vào cả quốc hội làm đại biểu của dân (may thiệt).

Đau khổ của phụ nữ Việt Nam còn phải nhắc đến những người ra đi phải bỏ xác ngoài biển, phải chịu cảnh cưỡng hiếp của hải tặc, phải nằm chôn năm tháng trong các trại với bao nhục nhằn. Mà, tác giả những bất hạnh đó của phụ nữ vẫn là Hồ chí Minh và cái đảng mafia của hắn. Còn phải kể đến biết bao chị em bị bán làm nô lệ (dưới cái uyển ngữ “hợp tác lao động”) sang Nga, Trung đông v.v… trong cảnh mang con bỏ chợ. Được sự “chỉ đạo” của đảng mafia tác giả các văn tự bán nô lệ đó chính là Trần đình Hoan và Nguyễn thị Hằng – cô bồ tỉnh Thanh của tên lang băm cách mạng Xuân Thủy. Cho nên đến đại hội đảng mafia lần 7, cả Hoan lẫn Hằng đều được là trung ủy chính thức!

Phụ nữ với “mở cửa” và “đổi mới”

Năm 1986, vở hài kịch “mở cửa” và “đổi mới” được quảng cáo rùm beng. Những màn đầu tiên là những khách sạn, nhà hàng xưa kia bị đảng mafia đổi cho tên mới, nay lại “đổi mới” thành tên cũ, như ở Sài-gòn: Đồng khởi trở lại Continental, Hữu nghị trở lại Palace, 147 Đồng khởi trở lại Brodard v.v… và, ngay đó là các cuộc thi đủ loại hoa hậu được tổ chức với sự đỡ đầu của thương nhân nước ngoài. Kinh doanh đĩ điếm là nét đặc trưng của mafia. Cho nên cái đảng mafia của Hồ chí Minh cũng không ra ngoài quy luật của trò chơi mafia thông thường. Chỉ có điều nó được công khai hóa với “mở cửa” và “đổi mới”. Nếu xưa kia – trước 1975 – ở cảng Hải-phòng có những tổ chiêu đãi viên là nữ để phục vụ thủy thủ nước ngoài, kể cả thân xác, do cơ quan an ninh quản lý với lý do vừa thu ngoại tệ (dùng cho công tác gián điệp) vừa moi tin tình báo và tìm cộng sự viên (tức điệp viên) ở nước ngoài, thì nay lực lượng “chiêu đãi viên” nhiều gấp bội lần và công khai hóa, thí dụ như quán Lan Thành ở phố Nguyễn Thiệp, Sài-gòn (phố nối liền Đồng khởi – Nguyễn Huệ). Nếu xưa kia ở khu họp hành và nghỉ ngơi của trung ương đảng cộng mafia gồm những căn nhà kiểu “cottage” của Anh trên dẻo Hồ-tây có những nữ thanh niên được chọn lọc để mua vui cho lãnh đạo đỡ “buốt đầu” thì nay ngành nào, bộ nào cũng có nhà khách ở Sài-gòn, Đà-lạt và người phụ trách nhà khách kiêm việc “kiếm gái” cho lãnh đạo. Nhiều nhân vật nổi lên từ nghể ma-cô quốc doanh này, điển hình là tay Trường, hiện là giám đốc Culturimex của Sài-gòn – cơ quan thuộc bộ văn hóa thông tin của nhạc sỹ cung đình Trần Hoàn (quan thầy của Trịnh công Sơn).

Trong chính sách “mở cửa” và “đổi mới”, phụ nữ trở thành mặt hàng có thể nói là quan trọng của giới mafia cầm quyền. Chẳng có thế mà ngay giữa Sài-gòn, một cơ quan gọi là “tìm việc cho thanh niên” thuộc thành đoàn thanh niên do Lê văn Nuôi làm bí thư, và do thành ủy quản lý với Võ trần Chí, ủy viên bộ chính trị mafia, đứng đầu, đã công khai tuyển các nữ thanh niên và đánh lừa cho ra các khách sạn ven biển như Vũng Tàu “làm đĩ”. Giám đốc cái cơ sở ma-cô mafia quốc doanh đó là Nguyễn anh Dũng. Sự bung ra làm kinh tế đĩ điếm lan sang đến cả các ngành như đường sắt, thư viện, tòa án, bệnh viện v.v… đều lấy mặt bằng làm nhà hàng tuyển người đẹp, trẻ, nhẹ dạ để làm chiêu đãi viên (tức đĩ). Phụ nữ được từ Nguyễn văn Linh đến Đỗ Mười; Võ văn Kiệt dùng làm mồi câu “Việt kiều yêu nước” và thương nhân nước ngoài. Nhiều “Việt kiều yêu nước” đã “áo gấm về làng” lấy vợ lẽ (vừa là lẽ vừa ít tuổi) ở quê hương để tỏ rõ lòng yêu nước mặn nồng. Nhà cầm quyền nhắc nhở đến trường hợp tổng bí thư quá cố Lê Duẩn, 3 vợ, nên không gây phiền hà gì cho các “Việt kiều yêu… đa thê”. Phải chăng những người cầm quyền nhớ câu “trai anh hùng năm thê, bảy thiếp” và “bác” Hồ đã phong cho nhân dân Việt Nam là anh hùng, nghĩa là “sấm” cho đệ tử phải dùng võ “phục hồi đa thê” để phục hồi kinh tế, củng cố “chính quyền…” độc đảng cộng sản?

Nhiều “Việt kiều yêu nước” thăm quê hương trở ra hải ngoại không ngớt lời khen Hà-nội, Sài-gòn thay đổi nhiều lắm! Nhưng, thay đổi cái gì? Bộ mặt các thành phố, thị xã ở Việt Nam hiện nay nhiều màu sắc chói chang là nhờ lực lượng phụ nữ bị chính sách “mở cửa” và “đổi mới” của cộng sản lôi từ nông thôn ra để nhập vào đạo quân thần Bạch Mi, với áo quần hợp thời trang do… buôn lậu nhập vào, đã giết chết hàng nội địa. Số liệu công khai của nhà cầm quyền Đỗ Mười, Võ văn Kiệt dự đoán có khoảng 600 ngàn điếm ở Việt Nam, hiện nay. Con số đó còn rất xa với sự thật. Nó có thể xấp xỉ số lượng đảng viên của tổng bí thư Đỗ Mười hiện nay, nhưng có điều tốc độ phát triển của nó nhanh gấp nhiều lần tốc độ phát triển đảng (cộng sản), bởi nó được sự quan tâm của cả “ba giòng thác cách mạng” là đảng cộng sản Việt Nam, thương nhân nước ngoài và Việt kiều “yêu nước”.

Thay kết luận

Người dân miền Bắc Việt Nam đã thấy các trò hề về các ngày lễ từ trước 1975. Cho nên đã lưu hành trong dân thơ ghế đá về các ngày “hề” của cộng sản, rằng:

“Nhớ ngày mùng 3 tháng 2

Liềm búa lễ đài máu đỏ mưa sa

Nhớ ngày mùng 8 tháng 3

Đàn ông đi lính, đàn bà đi phu

Nhớ ngày 26 tháng 4

Thanh niên chết trận hoặc tù quanh năm

Nhớ ngày mùng 1 tháng 5

Công nhân đào đất xây lăng “bác Hồ”

Hai mươi tháng 7 lập lờ

Thương binh, tử sĩ được tờ “vẻ vang”

Bước sang tháng 8 rõ ràng

Phất cờ khởi nghĩa, xóm làng mừng vui

Nào ngờ vận nước còn xui

Mồng 2 tháng 9 ngậm ngùi Việt Nam

Aí quốc lại hóa Việt gian

Chiến tranh xâm lược tương tàn từ đây

Con côi, vợ góa, mẹ gầy

Rừng xanh tàn úa, máu đầy biển Đông…”

Chừng nào còn là chế độ cộng sản độc đảng trị thì nhân dân Việt Nam, nhất là phụ nữ, không thể nào có tự do, hạnh phúc được. Cái gọi là “mở cửa” là mở cửa cho khách tìm hoa lạ và “đổi mới” là đổi mới đối tượng đi tàu bay giấy: khi chiến tranh thì nam thanh niên là những anh hùng “Phù Đổng”, và bây giờ với “kinh tế thị trường” (có chỉ đạo) là đạo quân hàng triệu phụ nữ phấn son trong các vũ trường, khách sạn, nhà hàng.

Với Việt Nam lúc này có hai cách nhìn khác nhau: một, của những người có ngoại tệ mạnh nhằm hưởng thụ “tứ khoái” và hai là của đại đa số nhân dân Việt Nam còn nghèo khổ, không có tự do, không có hạnh phúc. Cái thứ nhất nhìn từ ánh đèn vũ trường, bàn tiệc nhà hàng, qua đôi vai trần của người phụ nữ bán thân xác. Cái thứ hai nhìn qua những túp lều chắp vá, qua bãi rác, qua đồng ruộng bùn lầy, qua rừng hoang tàn, qua bờ hè v.v… Cho nên nghe một người “bàn” về chuyện Việt Nam – dù người nước ngoài hay Việt kiều “yêu nước” hay cò mồi cơ hội hay bồi bút văn nô – đều dễ dàng nhận ra chỗ họ đứng để ngắm con tàu Việt Nam.

Còn đại đa số nhân dân Việt Nam, những người dân đen bất hạnh bị thống trị bởi cái đảng mafia của Hồ chí Minh thì vẫn sáng suốt thấy rằng:

“Ông Anh, ông Kiệt, ông Mười

Dở khóc, dở cười biết chọn ông nao

Ông nào ông nảo ông nao

Một đồng một cốt làm sao bây giờ

“Cửa mở” ra phải giấy tờ

“Đổi mới” nhìn lại vẫn thờ mấy ông

Đèn cù cứ chạy lòng vòng

Dân chủ cái còng, tự do đói ăn

Hạnh phúc chú cuội cung trăng!!!”

Tháng 2-1993

Việt Thường


Ăn thai nhi - 3000 nhân dân tệ (1 USD = 8NDT)
Các thương gia ở Quảng đông gần đây loan truyền một trào lu bồi bổ rợn tóc gáy - Canh thai nhi. Chỉ cần 3-4000 nhân dân tệ là có thể thưởng thức món canh cực bổ làm từ thai nhi 6-7 tháng tuổi, được các thương gia Đài loan ví như "tráng dương thượng phẩm".
Thương gia họ Vương - chủ một nhà máy ở DongWan - tự nhận là thường khách của canh thai nhi, cho biết : "Thai nhi độ mấy tháng tuổi, cộng thêm ... (một số vị thuốc Đông y không dịch được), hầm trong 8 tiếng rất có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết.". Ôm một gái bao 19 tuổi người Hồ Nam, ông Vương dương dương tự đắc nói : "Với độ tuổi 62 như tôi, mỗi tối đều có thể làm một lần (make love), chính là nhờ tác dụng của nó.".
Thấy vẻ mặt ký giả đầy hoài nghi, ông ta bèn tự nguyện dẫn ký giả đi "mở mang kiến thức".
Trạm đầu tiên, ông ta dẫn ký giả đến thành phố FoShan (Phật Sơn) tỉnh Quảng đông, tìm đến nhà hàng ăn canh thai nhi, không may ông chủ Lý nói : "Xương sườn (ám ngữ chỉ thai nhi) không dễ kiếm, hiện tại không có hàng. Loại này không thể để đông lạnh, phải ăn tươi mới tốt.".
Ông chủ Lý cho chúng tôi biết, nếu thực sự muốn ăn, "có một đôi vợ chồng ngoại tỉnh đến làm thuê, hiện đang có bầu 8 tháng, vì đã có 2 con gái nên nếu lần này lại là con gái thì có thể ăn được."
Ký giả vẫn bán tín bán nghi, điều tra phỏng vấn mất mấy tuần mà vẫn chỉ đựơc nghe mà chả được nhìn tận mắt, đã tưởng phải bỏ cuộc, nào ngờ mấy ngày sau ông Vương gọi điện báo : "Tìm được hàng rồi, tiết trời đang chuyển lạnh, có mấy người bạn đang muốn đi bồi bổ.".
Ông ta dẫn ký giả đến Đài Sơn, tìm đến nhà hàng, ông chủ họ Cao dẫn cả đoàn chúng tôi xuống bếp "khai nhãn giới".
Nhìn cái xác thai nhi chỉ nhỏ bằng con mèo con nằm trên cái thớt, ông Cao hơi ngượng ngùng nói : "5 tháng tuổi, hơi nhỏ một chút".

Một hiện tượng chưa từng bao giờ diễn ra trong lịch sử của xã hội văn minh loài người..tưởng chừng như chỉ có thể có trong phim,hoặc khi con người đối mặt với cái đói..phải chọn vì mục đích sinh tồn,mới làm vậy..!!..đằng này..không biết họ nghĩ gì..và họ đang làm gì..




“Hổ dữ còn không ăn thịt con…”, thế nhưng mà có người cha đã tự tay nướng con trai mình… Không những thế, hắn còn khen thơm và sau đó đã ăn thịt con mình một cách ngon lành…

Các thương gia Đài loan ở Quảng đông gần đây loan truyền một trào lưu bồi bổ rợn tóc gáy - Canh thai nhi. Chỉ cần 3-4000 nhân dân tệ là có thể thưởng thức món canh cực bổ làm từ thai nhi 6-7 tháng tuổi, được các thương gia Đài loan ví như "tráng dương thượng phẩm".
Đài thương họ Vương - chủ một nhà máy ở Dong Wan - tự nhận là thường khách của canh thai nhi, cho biết: "Thai nhi độ mấy tháng tuổi, cộng thêm... (một số vị thuốc Đông y không dịch được), hầm trong 8 tiếng rất có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết.". Ôm một gái bao 19 tuổi người Hồ Nam, ông Vương dương dương tự đắc nói: "Với độ tuổi 62 như tôi, mỗi tối đều có thể làm một lần (make love), chính là nhờ tác dụng của nó".

Thấy vẻ mặt ký giả đầy hoài nghi, ông ta bèn tự nguyện dẫn ký giả đi "mở mang kiến thức".
Trạm đầu tiên, ông ta dẫn ký giả đến thành phố Fo Shan (Phật Sơn) tỉnh Quảng đông, tìm đến nhà hàng ăn canh thai nhi, không may ông chủ Lý nói: "Xương sườn (ám ngữ chỉ thai nhi) không dễ kiếm, hiện tại không có hàng. Loại này không thể để đông lạnh, phải ăn tươi mới tốt".

Ông chủ Lý cho chúng tôi biết, nếu thực sự muốn ăn, "có một đôi vợ chồng ngoại tỉnh đến làm thuê, hiện đang có bầu 8 tháng, vì đã có 2 con gái nên nếu lần này lại là con gái thì có thể ăn được".

Ký giả vẫn bán tín bán nghi, điều tra phỏng vấn mất mấy tuần mà vẫn chỉ đựơc nghe mà chả được nhìn tận mắt, đã tưởng phải bỏ cuộc, nào ngờ mấy ngày sau ông Vương gọi điện báo: "Tìm được hàng rồi, tiết trời đang chuyển lạnh, có mấy người bạn đang muốn đi bồi bổ".

Ông ta dẫn ký giả đến Đài Sơn, tìm đến nhà hàng, ông chủ họ Cao dẫn cả đoàn chúng tôi xuống bếp "khai nhãn giới".

Nhìn cái xác thai nhi chỉ nhỏ bằng con mèo con nằm trên cái thớt, ông Cao hơi ngượng ngùng nói : "5 tháng tuổi, hơi nhỏ một chút".

Ông Cao nói rằng cái xác thai nhi nữ này do một người bạn kiếm được dưới nông thôn, ông ta không muốn tiết lộ giá mua vào, chỉ nói rằng giá cả phụ thuộc vào tháng tuổi và sống hay chết.

Ông Vương cũng nói thêm, ăn một bữa hết 3500 tệ, các chi tiết khác ông không quan tâm.
Ký giả nghe mọi người nói, thai nhi chết do lưu sản hoặc phá thai được bán cho người môi giới khoảng vài trăm tệ, nếu là thai nhi sống đẻ thiếu tháng thì giá khoảng 2000 tệ, coi như mua làm con nuôi. Khi thai nhi được giao cho nhà hàng thì đều đã chết, còn chuyện trước đó là thai sống hay thai chết thì không quan trọng.

Bữa canh bổ này ký giả không có gan nếm thử, sau khi tham quan nhà bếp xong rất lâu không ăn đựơc gì, bèn giả vờ ốm cáo lui.

Các món ăn đều làm từ thai nhi nữ. Đây phải chăng là tác hại của chính sách một con, hay là do tập tục thích bồi bổ của người Trung Quốc?.

GIÁ CHO 1 THỐ THAI NHI LÀ 3000 NHÂN DÂN TỆ ( 1USD = 8NDT )

các thương gia Đà Loan ở Quảng Đông dạo gần đây đã rĩ tai nhau một trào lưu bồi bổ sức khỏe rợn tóc gáy - ăn thịt thay nhi - thai nhi được dùng chế biến làm món ăn là khỏang từ 6 đến 7 tháng tuổi ( được cung cấp từ các bệnh viện do nạo phá phai , sanh non ....) .....được nấu chung với 1 số loại thuốc Đông y ..........
















NHỮNG CHỦ NHÂN LẦU 3 (Về Hội Nhà văn Việt nam) (Viet Thuong)

NHỮNG CHỦ NHÂN LẦU 3

(Về Hội Nhà văn Việt nam)

Việt Thường

Khi những ngôi nhà cao tầng đầu tiên được xây dựng ở Hà-nội (từ trước 1975) thì cũng xuất hiện câu chuyện tiếu lâm “thời sự” về “nhà 5 tầng”(1). Chuyện kể rằng:

“Ngôi nhà 5 tầng đầu tiên sau khi hoàn thành, bộ trưởng kiến trúc cùng giám đốc sở kiến trúc Hà-nội và kỹ sư trưởng của công trình tổ chức họp báo và giới thiệu về tòa nhà. Sau khi tham quan xong, chủ khách trà nước, thuốc lá, bánh kẹo lai rai, các nhà báo đều thắc mắc rằng: tòa nhà rất đẹp nhưng mọi người không hiểu sao cả 5 tầng đều không có nhà vệ sinh (nhà cầu). Viên kỹ sư trưởng đứng dậy trả lời đại ý: theo chủ trương của bộ và sở, tòa nhà này tầng một (tầng trệt) để làm nhà trẻ em nên không cần phải làm nhà cầu. Lý do: các cháu bị cột chặt vào ghế có lỗ, bên dưới có bô đựng cứt từ lúc đến cho đến lúc bố mẹ đón về. Mót ỉa thì đã có bô nên không cần nhà cầu. Tầng hai (lầu 1) giành cho sinh viên đại học ở. Nhưng sinh viên chỉ được ăn tiêu chuẩn nhà nước qui định là 15 đồng/tháng (tiền Hà-nội trước 1975) nên đói quá không có “cứt” mà ỉa, vì thế cũng không cần nhà cầu. Tầng ba (lầu 2) giành cho công nhân ở. Mà công nhân lương quá thấp nên luôn luôn lãn công, hết hút thuốc lại đái ỉa cho hết ngày giờ qui định ở nhà máy. Cho nên về đến nhà còn cứt đâu mà ỉa. Vì thế cũng không cần nhà cầu. Từng bốn (lầu 3) giành cho văn nghệ sỹ. Mà văn nghệ sỹ vốn từ khi có vụ đàn áp “bọn” Nhân văn – Giai phẩm, có thói quen “ỉa vào mồm nhau” nên cũng không cần nhà cầu. Và, tầng năm (lầu 4) là tầng tột đỉnh của tòa nhà, phải là nơi ngự tọa của lãnh đạo cao cấp. Là lãnh đạo đương nhiên được quyền “ỉa lên đầu lên cổ nhân dân”, có bao giờ ỉa nhà cầu đâu, nên cũng không cần đến nhà cầu. Cử tọa nghe xong, trên từ bộ trưởng, dưới đến mấy anh làm báo của các đảng Dân chủ và Xã hội đều tấm tắc khen nhà thiết kế quả đã thấm nhuần “tính đảng” trong công tác thiết kế xây dựng.”

Bế mạc cuộc họp báo mọi người cùng hát lớn các bài “ca ngợi đảng Lao động Việt Nam”, “ca ngợi Hồ chủ tịch”; cùng hô to các khẩu hiệu: “đảng Lao động Việt Nam muôn năm”, “Hồ chủ tịch muôn năm”, “vinh quang thuộc về chủ tịch Hồ chí Minh vĩ đại” và khẩu hiệu cuối cùng là: “Nhất định không cần nhà cầu”, hội trường vang lên ba lần tiếng “nhất định”. Chủ, khách ra về hồ hởi phấn khởi trong tinh thần cách mạng “dám nghĩ, dám làm”.

Truyện tiếu lâm là một loại hình văn học. Mà văn học bao giờ cũng phản ảnh hiện thực của xã hội. Cơ sở chuyện “nhà 5 tầng” trong đó có nói đến việc văn nghệ sỹ dưới chế độ cộng sản có thói quen “ỉa vào mồm nhau” là một sự thật, chỉ cần lôi các báo chí của Hà-nội từ năm 1959 sẽ thấy rõ ràng như vậy, nhất là tờ Nhân dân, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Việt Nam. Hầu hết các văn nghệ sỹ đều cố tình hoặc bị dồn ép vào cái trò “ỉa vào mồm nhau” này do các cấp lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản Việt Nam như Hồ chí Minh, Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Nguyễn chí Thanh và nhất là Tố Hữu, bày cách và cổ suý. Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học cũng như những nhà lý luận “cóc cắn” ào ào lên tiếng sủa như chó làng ngày hội. Ai cũng nghiến răng trợn mắt, đao to búa lớn cố chứng minh cho “đảng” và “bác Hồ” thấy mình căm thù bè lũ Nhân văn – Giai phẩm nhất. Người bắn phát pháo hiệu cuộc thi “ỉa bậy” đó là “đại tướng Nguyễn chí Thanh”, ủy viên bộ chính trị, chủ nhiệm tổng cục chính trị của quân đội, phó bí thư quân ủy trung ương. Cái ông “đại tướng” này hay nói chuyện với văn nghệ sỹ và lúc nào cũng tự hào (thực ra là tự ti) là chỉ học đến lớp 4 nhưng có lập trường vô sản kiên định nên “vẫn làm được đại tướng và đánh thắng giặc Pháp”. Tiếp đến là Tố Hữu, người khai sinh ra phong cách “thơ cung đình” trong lịch sử văn học Việt Nam. Khác với Nguyễn chí Thanh, Tố Hữu hết sức né tránh nói đến trình độ văn hóa của mình. Là người đích thân ra đòn cũng như hoạch định cho các tay chân thân tín “chửi” những người trong phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Những gương mặt văn nô nổi bật nhất là Cù huy Cận, Xuân Diệu, Bảo định Giang, Nông quốc Chấn, Lưu trọng Lư, Phạm huy Thông, Xích Điểu, Hoàng trung Thông, Nguyễn đình Thi, Nguyễn Khải, Phạm Hổ, Đào Vũ, Nguyễn công Hoan v.v… về nhạc có Phạm Tuyên, Huy Du, Đỗ Nhuận, Trần Hoàn, Ngô sỹ Hiển v.v… Về điện ảnh và nhiếp ảnh có Nguyễn đức Hinh, Đinh đăng Định, Nguyễn Thụ. Giới phê bình có Hoài Thanh, Trường Chinh, Trường Lưu v.v… Các nhà lý luận có Năm Chuột (Trường Chinh, cái tên trong chuyện ngắn của cụ Phan Khôi) rồi đến Trần văn Giàu, Đào duy Tùng, Nguyễn khánh Toàn, Phạm như Cương, Hồng Chương, Nguyễn Chương, Lê đình Kỵ, Hà minh Đức, Hoàng xuân Nhị, Trần huy Liệu, Văn Tân, Trần Độ, Hà huy Giáp v.v… Loại đánh hôi chưa có chỗ đứng trong văn học nghệ thuật và phê bình, lý luận có Vũ đức Phúc (anh giáo viên trường phố huyện Gia-lâm), Phặm đình Sáu (giáo viên tỉnh lẻ Cao-bằng), Vũ Khiêu (giáo viên tỉnh biên giới Lạng-sơn) v.v… Trong giới báo chí có Hoàng Tùng, Thép Mới, Quang Đạm, Diệu Bình, Lưu quý Kỳ, Mạnh Hồng, Hoàng Tuấn, Lê bá Thuyên, Huỳnh văn Tiểng v.v… Để “nêu danh” những kẻ đê tiện nhất trong tay chân Tố Hữu, người dân đen ở Hà-nội có hai câu:

“Xuân Diệu, Xuân Sanh như Xuân Tóc Đỏ”.

và: “Mồm Phạm Hổ, cổ Hoài Thanh, nanh Đức Phúc” (tức Vũ đức Phúc).

Có thể nói rằng trọn vẹn những kẻ tham gia “ỉa bậy” do lãnh đạo chóp bu của cộng sản Việt Nam động viên và chỉ đạo từ đó cho đến nay đều bước rất nhanh trên bậc thang “quan lại đỏ”. Tố Hữu từ một ủy viên dự khuyết trung ương leo vào bộ chính trị kiêm bí thư trung ương, phụ trách trưởng ban tuyên huấn trung ương, rồi giữ luôn ghế phó thủ tướng thứ nhất, thường trực thường vụ hội đồng chính phủ. Giá không xảy ra vụ “nhà thơ” Tố Hữu làm “kinh tế” về “giá, lương, tiền” thì chắc chắc anh chàng Lành (tức Tố Hữu) mà “độc” này đã thay thế Phạm văn Đồng rồi chứ có đâu đến lượt Phạm Hùng. Cù huy Cận, nhà thơ được thanh niên Hà-nội đổi tên thành Cù Hay Cắn (bậy), nay giữ ghế chủ tịch ủy ban liên hiệp văn học nghệ thuật; Trần Hoàn lên ghế bộ trưởng văn hóa; Nguyễn Khải, phó tổng thư ký hội nhà văn; Nguyễn Thụ, cục trưởng cục điện ảnh v.v… Một số khác tuy chết nhưng là chết trong “vinh quang” ở cái lúc đã có ngôi thứ trong bộ máy cai trị của cộng sản. Riêng ba chàng đánh hôi, từ cái chỗ đứng khiêm tốn ở nhà trường mái lá tỉnh lẻ, phố huyện đã leo tót về trung ương: Vũ Khiêu làm viện trưởng viện mỹ học Marx-Lénin. Phạm đình Sáu làm vụ trưởng vụ ca múa nhạc (trước Trung Kiên) và Vũ đức Phúc làm viện phó viện văn học. Còn Nguyễn đình Thi, con người có kiến thức đa dạng, cũng có tác phẩm văn học, cũng làm nhạc, cũng làm thơ, cả thơ tình nữa và cũng có nhiều mối tình “bẩn thỉu” không thua gì “mối tình bẩn” của Tố Hữu, liên tục giữ chức tổng thư ký hội nhà văn cho đến tận nhiệm kỳ vừa qua mới nghỉ… hưu, cái chức vụ mà người dân bình thường gọi là “chó giữ cửa”. Nhờ vào dịp thi “ỉa bậy” đó, một nhân vật có máu “chó săn nòi” đã xuất hiện và trở thành kẻ có uy quyền lừng lẫy và cũng lẫy lừng về các vụ làm tiền và bắt “bồ nhí”, đó là trung tướng công an Dương Thông, tổng cục phó tổng cục an ninh của ngụy quyền cộng sản Việt Nam. Và, cũng từ đó, Dương Thông cho đến nay vẫn đóng một vai trò quan trọng, đôi lúc còn là chính yếu trong các vụ thi “ỉa bậy”. Hầu như tất cả những đệ tử năng nổ của Tố Hữu đều trở thành kẻ công tác chặt chẽ với cơ quan an ninh của Dương Thông. Và, chính Tố Hữu, dù lúc nào cũng tự coi con người mình như gồm các tế bào “bằng thơ” cấu thành cũng thấy được quyền uy của công an trong chế độ độc tài, công an trị, nên có đứa con một tuy là gái nhưng không cho theo nghiệp thơ văn mà cho đi làm nghề “công an”.

Tất cả những người kẹt trong vụ Nhân văn – Giai phẩm đều nằm tù hoặc bị cải tạo lao động ở các nông trường hoặc công trường, trừ Trần Duy (tức Trần quang Tăng). Bị tù như Nguyễn hữu Đang, Thụy An v.v…; đi chăn bò ở Ba-vì như giáo sư thạc sỹ triết học Trần đức Thảo v.v…; làm thơ đấu (đào đất) như Văn Cao, Lê Đạt, Hoàng Cầm v.v… Bị cắt hộ khẩu khỏi Hà-nội như Trần Dần… để đưa đi miền núi. Riêng Trần Duy, làm lao động phất phơ ở công trường Bảy mẫu (công viên Lê-nin hiện nay) độ một tháng thì được biên chế về hội Mỹ thuật để ăn lương nhưng nằm nhà vẽ tranh cho các sứ quán Đông-âu dưới cái tên Hồng Hà. Riêng cụ Phan Khôi, bản thân bị đày ải, bôi nhọ cho đến chết. Đau nhất là đứa con trai bất hiếu của cụ là Phan Thao, đã “đấu bố” đúng tinh thần “con người xã hội chủ nghĩa” nên vẫn là đảng viên cộng sản lại còn được Hồ chí Minh cho làm tổng biên tập báo Thống nhất. Nhưng một hôm Phan Thao đi làm về qua hồ Thuyền Cuông thì tự nhiên lè lưỡi, trợn mắt mà chết như bị ai bóp cổ. Dân Hà-nội thì kháo nhau đó là hồn cụ Phan Khôi bóp cổ chết đứa con bất hiếu. Tuy không viết một chữ nào về văn nghệ, nhưng cụ bà Phan Khôi cũng bị làm nhục bằng cách cho xếp ở một căn phòng nhỏ như cũi chó ở ngay cạnh chỗ ỉa đái của cơ quan Liên-hiệp văn học nghệ thuật (51 Trần hưng Đạo, Hà-nội) với con gái, và cụ bà làm việc hầu hạ nước nôi, quét dọn văn phòng cho các ông quan “văn nghệ đỏ” gồm: Nguyễn đình Thi, Bảo định Giang, Đỗ Nhuận, Mai văn Hiếu v.v…

Văn nghệ sỹ, vốn làm chức năng “tải đạo” cho xã hội, thì nay trong sự nhào nặn của Hồ chí Minh và đảng của hắn, những ai muốn làm người, một người Việt bình thường cũng không thể được. Trong chế độ xã hội ở miền Bắc Việt Nam – sau 1954 – và ở cả nước Việt Nam – sau tháng 4-1975 – một chế độ, do sử gia cộng sản Việt Nam chính thống ca ngợi, mà cha đẻ là Hồ chí Minh, dù Bá Di và Thúc Tề có còn sống cũng bị khai báo hộ khẩu để công an quản lý. Văn nghệ sỹ chuyên nghiệp trở thành văn nô: viết gì, viết lúc nào v.v…đều có lãnh đạo của nhà cầm quyền cộng sản, do nhà cầm quyền cộng sản trả lương. Tất cả hội viên của hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật đều ăn lương của hội, cũng chịu sự xếp lương của cán bộ tổ chức như các ngành nghề khác như công nhân vệ sinh, thợ hớt tóc, lấy dáy tai thuộc công ty phục vụ v.v… Bậc lương của họ không tùy thuộc vào tác phẩm, vào tài năng mà căn cứ vào sự “tự nguyện thuần hóa thành văn nô của họ”. Thí dụ như nhà văn Quang Dũng, lương tương đương cán sự bậc 3 trong lúc anh chàng làm thơ “cóc cắn” Bảo Định Giang lương chuyên viên 5, nghĩa là hơn gấp hai lần tiền mặt danh nghĩa, còn giá trị thực thì chênh lệch một trời một vực. Bởi lẽ tất cả mọi nhu cầu ăn, mặc, ở của Quang Dũng đều trói tròn trong đồng lương bậc 3 (khoảng 64 đồng tiền Hà-nội trước 1975). Còn Bảo định Giang được ở nhà, điện, nước cho đến giường nằm, tủ quần áo, xe hơi, máy thu thanh… đều do “đảng” cung cấp. Đã thế còn có sự khác biệt về chế độ ốm đau, nơi khám bệnh, nơi mua hàng theo giá rẻ gấp nhiều lần so với thị trường tự do và tiêu chuẩn mua hàng thanh lý và hàng “viện trợ”, và cuối cùng lúc chết cũng khác biệt về vải liệm, áo quan, vòng hoa viếng (loại bao nhiêu tiền) và nơi chôn cũng như được đảng cáo phó hay không v.v… Trong sáng tác lại còn phân biệt hơn nữa. Trước hết, tác phẩm không cần phải thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của người đọc mà phải “thỏa mãn tính tự kiêu, tự mãn” của Hồ chí Minh và những người thừa kế (thường nhập nhằng trong khái niệm “đảng”); tác phẩm không được phản ảnh đúng hiện thực của xã hội mà phải “tô hồng” với ta, “bôi đen” với địch và “bóp méo” dữ kiện lịch sử. Văn nghệ sỹ không còn quyền sáng tác tự chủ mà trở thành người thợ thủ công “đẻ” tác phẩm theo mẫu mã, kích thước và thời gian giao hàng do Hồ chí Minh và những người thừa kế ra lệnh. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mà Hồ chí Minh là kẻ “phóng tác”, nếu như các tiểu chủ như đạp xích-lô, hớt tóc dạo v.v… phải gia nhập bắt buộc vào các hợp tác xã của nhà nước cộng sản để chịu sự quản lý mọi mặt từ con người, lao động, loại sản phẩm, giờ giấc sinh hoạt của cả cuộc đời cho đến tư tưởng, thì, văn nghệ sỹ cũng bị quản lý như vậy. Có chút khác biệt là cơ chế quản lý văn nghệ sỹ, về nội dung là một hợp tác xã, còn về hình thức thì được tô màu lòe loẹt là ”Hội”.Đương nhiên các chức sắc của “hội” được tuyển chọn theo tiêu chuẩn có “tai, mũi, mắt” của “chó giữ nhà”, và bọn họ đều chịu sự lãnh đạo hai chiều: phần “sáng tác” do ban tuyên huấn trung ương chỉ đạo (xưa là Tố Hữu, nay là Đào duy Tùng) và phần “an ninh chính trị” do Dương Thông trung tướng cộng an, tổng cục phó an ninh. Bản thân các chức sắc của “hội” lại bị giám sát bằng một mạng lưới “mũ” (tức công an chìm) của Dương Thông qua các lái xe, thợ in, chủ quán cà-phê, trà chén, và ngay chính một số hội viên của hội. Văn nghệ sỹ đúng là phải sống trong cảnh “thiên la, địa võng” ngoài sợi dây buộc chiếc bao tử như cái hàm thiếc ngoàm vào mồm con ngựa. Có điều trớ trêu là Hồ chí Minh rất “khoái” Tố Hữu và Dương Thông về cái sản phẩm “thiên la, địa võng” đó, cũng như Tồ Hữu và Dương Thông “khoái đàn chó giữ nhà” và bầy “gác-điêng” do mình tạo ra. Nhưng thực ra, nhiều văn nghệ sỹ vẫn làm được cái việc “thăng thiên, độn thổ”, trở về lòng Mẹ là nhân dân và Tổ quốc để phủ lên các đồi hoang văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa bằng rừng xanh văn học dân gian, bằng cách nói nước đôi, bằng mượn chuyện xưa răn đời nay v.v…

Sau vụ đàn áp phong trào Nhân văn – Giai phẩm ít lâu, có những nhà văn “gọi là còn có lòng” cũng tự làm lấm cuộc đời sáng tác văn học của mình, như Nguyễn huy Tưởng, viết “Truyện anh Lục”, ca ngợi cố nông có tài “vu láo”. Một số tài năng xuất sắc bị “cất bút” không cho sáng tác, nhất là về thơ như Lê Đạt, Trần Dần, Hữu Loan, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm v.v… chủ yếu là sự đố kỵ về tài năng của nhóm Tố Hữu, Cù huy Cận, Xuân Diệu, Chế lan Viên; hoặc về văn như Phùng Quán, Vũ Cao, Bùi quang Đoài, Quang Dũng, Trần lê Văn; hoặc về nhạc như Văn Cao, Tử Phác; hoặc về họa bị chèn ép như Văn Cao, Nguyễn Sáng, Trọng Kiệm, Bùi xuân Phái v.v… về điện ảnh và sân khấu như Trần Công, Phan Tại (bị tù). Tuy không đủ gan nói trắng trợn như Mao trạch Đông rằng: “Trí thức không bằng cục phân”, nhưng trong sử dụng thì Hồ chí Minh và tay chân của hắn coi “trí thức và văn nghệ sỹ” như cục phân thực thụ. Tất cả đều bị bỏ vào ủ trong cái cơ chế “hố xí hai ngăn xã hội chủ nghĩa”(2). Bao tài năng bị hủy bỏ, bao tài năng bị ủ trong “hố xí hai ngăn xã hội chủ nghĩa” đã biến chất văn nghệ sỹ thành các thứ nô lệ tôi mọi, lo lắng và hành động theo bản năng thấp hèn. Xuân Diệu, Hoài Thanh… chỉ lo đi giới thiệu và bình thơ Tố Hữu. Còn Chế lan Viên thì bốc thơm thơ Sóng Hồng (tức Trường Chinh). Tất nhiên, cả bộ máy “hợp tác xã văn nô” được huy động vào việc “nịnh” Hồ chí Minh. Mỗi văn nghệ sỹ đều cố sáng tác thật nhiều tác phẩm ca ngợi Hồ chí Minh. Đó là công điểm, là lập trường cách mạng, là lá bùa hộ mạng mà cũng là cần câu cơm cùng bậc thang danh vọng của giới “hợp tác xã văn nghệ xã hội chủ nghĩa”. Tố Hữu, Trần Hoàn (hiện nay là bộ trưởng văn hóa, quan thầy của Trịnh công Sơn), Diệp minh Châu, Đinh đăng Định v.v… là điển hình của văn nô về cái bén nhạy trong “thi công” văn học, nghệ thuật xã hội chủ nghĩa.

Vườn hoa văn học nghệ thuật truyền thống của nước Việt Nam văn hiến đã bị các loại cỏ độc cộng sản do Hồ chí Minh gây giống làm thui chột. Với cách đào tạo, cải tạo, nuôi dưỡng, quản lý và sử dụng như vậy, lẽ đương nhiên phải nảy sinh những con người dạ thú. Ngay như Xuân Diệu, chỉ một “Phấn thông vàng” và các bài thơ làm trước 1945 cũng đưa hắn ta lên đỉnh cao, vậy mà được cải tạo trong “hố xí hai ngăn xã hội chủ nghĩa” của Hồ chí Minh, Xuân Diệu trắng trợn “ăn cướp” công trình sưu tầm thơ về Hồ chí Minh qua tập “Sáng tháng năm” của sinh viên đại học tổng hợp văn (Hà-nội) là Hạ bá Nền (lý do tiền là phụ mà lý do chính là muốn “lấy điểm” với Hồ chí Minh!). Chỉ cần một phần nhỏ gia sản sáng tác của mình trước 1945, Chế lan Viên cũng được mến mộ, vậy mà có thể uốn ngòi bút để ca ngợi thơ của Sóng Hồng (chỉ vì Sóng Hồng tức là Trường Chinh) với thơ kiểu “quan võ” trong truyện tiếu lâm Việt Nam. Thơ Sóng Hồng với những câu:

“Sắt chạm sắt, lóe lửa

Tiếng chạm tiếng đinh tai…”

Có khác gì thơ “quan võ”:

“Chẳng phải voi, chẳng phải trâu

Ấy là con chó cắn gâu gâu

Khi ngủ với nhau thì phải đứng

Trăm năm chẳng được hớp chè tàu”

Có điều thơ “quan võ” do anh phó may nịnh, còn thơ Sóng Hồng do Chế lan Viên nịnh! Nhờ đó nên bước vào đại hội 4 cộng đảng, Chế lan Viên bị trượt phiếu ở đảng bộ cộng sản ở hội liên hiệp văn học nghệ thuật, lập tức được Trường Chinh (tức Sóng Hồng) hỏa tốc cho vào ứng cử ở đảng bộ tỉnh Lâm-đồng” (Thật kỳ quái!). Đặc biệt văn nô Hoài Thanh còn chấp nhận cả một thứ công việc vô sỉ nữa là vụ lấy vợ vào lúc mà cả hai hàm răng đã rụng không còn cái nào. Chẳng là một góa phụ của một cố bộ trưởng hồi xuân, ngụ tại đường Trần quốc Toản (Hà-nội) hay được mấy con bướm trong trung ương đảng (cộng sản) đến hút nhụy, để xảy ra ghen tuông làm ầm cả phố phường. Trùm lãnh đạo tư tưởng Tố Hữu có sáng kiến ghép đôi lứa bà quả phụ hồi xuân đó cho Hoài Thanh, nhỡ có gì thì làm nhiệm vụ “đổ vỏ” cho mấy ông trung ương “ăn ốc”. Đó là võ cũ của nhà thơ Tố Hữu, trước năm 1959, đã gạt cô “bồ nhí” sang cho một họa sỹ trẻ, em nuôi của cô ta. Rồi một nhà văn, tác phẩm thì tầm thường, nhưng có dáng người cao ráo, đã hãnh diện vì vợ được kèm đàn tại tư gia cho một ông đại tướng, nên đã leo rất nhanh thành “quan văn nghệ đỏ”. Cũng như một nhà thơ kỳ cựu đã giới thiệu cô “bồ nhí” đến an ủi cho vị nguyên thủ nên có nhiều bê bối mà vẫn “huề cả làng”. Nhiều lắm, có thể kể cả thế kỷ cũng không hết những thí dụ về “người thật việc thật”. Chính những “tấm gương” rất “cộng sản” đó đã làm tha hóa biết bao nhiêu văn nghệ sỹ. Và, cái hợp tác xã văn học nghệ thuật trở thành chốn dung thân cho những kẻ lấy “sáng tác” làm nghề phụ mà nghề chính là “thổi ống đu đủ”, là “lăn, lê, bò, toãi”, là “ỉa bậy”!

Nhà nước của Hồ chí Minh và những người thừa kế ngày đêm lo hoàn chỉnh bộ máy đàn áp và thống trị các tầng lớp nhân dân thì ngược lại những người bị áp bức cũng hoàn chỉnh các cách chống lại tụi thống trị. Công nhân, xã viên nông nghiệp, xã viên thương nghiệp, cán bộ, nhân viên, bộ đội, trí thức, sinh viên v.v… luôn đẻ ra nhiều cách lãn công, hối lộ, vô hiệu hóa công cụ chuyên chính của chế độ. Còn văn nghệ sỹ? Họ dùng nghề nghiệp của mình là sáng tác, là phản ảnh hiện thực của xã hội, tìm cách “luồn lách” vào các sơ hở của ngụy quyền, thực sự “dựa vào dân” để nhớ, để lưu hành miệng, để hoàn chỉnh mọi tác phẩm tấn công vào nhà nước bạo quyền của Hồ chí Minh và chân tay thân tín. Ngoại trừ một số những sáng tác luồn lách để in được do các tác giả có dụng ý như truyện ngắn “Cây táo ông Lành” trên báo Văn nghệ; “Nhà Lý” trên báo Thống nhất; “Vào đời” của nhà xuất bản Văn học; cho đến các truyện ngắn “Cái gốc”, “Tờ hoa” v.v… thì ngay cả những nhà văn có một thời “lỡ sống hên”, về cuối đời đã liều mình chơi lại ngón “đà đao” như Nguyễn công Hoan với “Đống rác” và “Nhớ gì ghi nấy”; như Tú Mỡ nằm dưỡng bệnh “chờ chết” ở Quảng-bá (Hà-nội) khi nghe tin trên đài báo “Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng” đã nói với mọi người rằng “nhờ Nhất Linh và anh em trong Tự lưc Văn đoàn mà trở thành nhà thơ trào phúng” và thường buồn bã kể lại những kỷ niệm đẹp của thời sống với Tự lực Văn đoàn v.v… không thèm hé răng nói gì đến “bác Hồ” với “đảng của bác” hoặc cái hợp tác xã văn học do Nguyễn đình Thi làm chủ nhiệm!

Cả bộ máy tuyên huấn trung ương do Tố Hữu chỉ đạo, phối hợp nhịp nhàng với cơ quan an ninh của Dương Thông và Quang Phòng luôn tìm cách trấn áp, bôi nhọ, vu cáo những văn nghệ sỹ chân chính, như viết bài tố cáo cụ Phan Khôi là mật thám của Pháp; giáo sư Trần đức Thảo là đạo văn; Trần Dần, Đặng đình Hưng là nòi phản động, trong nhóm với Đinh Hùng (ở miền Nam); Hoàng Cầm biến chất; Lê Đạt “bị mụ gián điệp” Thụy An mua chuộc; Vũ trọng Phụng (đã chết từ trước 1945) và Trương Tửu là phần tử Troskiste; Tử Phác là con quan lại phản động v.v… Thôi thì đúng như cụ Nguyễn Du đã “tiên đoán”:

“… Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh”…

hay: “… Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”…

Bảo định Giang thôi làm thơ “con cóc” mà cả ngày viết báo cáo “đồng kính gửi” Tố Hữu và Dương Thông về thái độ của từng văn nghệ sỹ “khả nghi”. Hắn ta lưu ý cấp trên đến cả việc Nguyễn Tuân vắng mặt trong ngày “viếng” đại tướng Nguyễn chí Thanh là biểu hiện cụ thể của hành động “chống đảng”. Mai văn Hiến thì bò như rắn lên cầu thang ở nhà tập thể đường Nguyễn thái Học (Hà-nội), áp tai vào cửa phòng của họa sỹ Nguyễn Sáng xem “bàn luận” gì với Văn Cao. Xuân Diệu đi khắp các trường đại học nói chuyện “về tên Hoàng Cầm” đã dám chê thơ của “lãnh tụ Tố Hữu” là đục lờ lờ như nước vo gạo. Vũ đức Phúc thì gào lên rằng “văn học dân gian là phản động!” v.v… Còn Nguyễn đình Thi, hàng ngày đều đặn đi xe hơi đến nhà riêng Tố Hữu nhận kế hoạch “trấn áp tư tưởng” lũ “văn nghệ sỹ chống đảng”. Trong lúc đó Trần Duy suốt ngày “đeo cái mác thư ký tòa soạn báo Nhân văn” cưỡi mô-bi-lét đời mới do thân nhân ở Pháp gửi cho để “thăm dò tư tưởng” giới trẻ và giám sát những người qua lại với Văn Cao, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm v.v… lấy tài liệu viết báo cáo định kỳ nộp cho Dương Thông hoặc qua tay Quang Phòng chuyển tới Dương Thông. Nông quốc Chấn (thứ trưởng văn hóa) có vẻ thực dụng hơn nên “đánh bè lũ Nhân văn” bằng cách làm hại đời con gái của một nhà văn lão thành trong nhóm Nhân văn. Người Hà-nội chua chát nói đến chuyện này kết hợp với việc Nguyễn đình Thi dụ dỗ một ca sỹ trẻ, tên là Vi Oanh, ở đài phát thanh, khi “bể mánh” lại đến tận đài phát thanh gặp Trần Lâm, tổng biên tập của đài, đề nghị cho cô bé nhẹ dạ đó “nghỉ việc”. Cũng may, nhẹ dạ trong tình yêu nhưng cô ca sỹ có thần phù trợ nên còn lưu được lá thư bút tích của Nguyễn đình Thi xin lỗi lỡ hẹn vì “phải đi nghe cố đạo giảng kinh” (ý nói bị Tố Hữu gọi lên nghe lệnh). Lá thư được gửi đến tay Tố Hữu nên cô ca sỹ khỏi bị “đuổi việc”. Còn Nguyễn đình Thi, lưng còng hơn nữa trước Tố Hữu và bị cảnh cáo cho nghỉ “nhiệm vụ nghị gật” trong quốc hội bù nhìn! Câu nói đó là:

“Kinh tày đình, thằng Thổ hại cô Thái

Họa xiếc khỉ, tên Thi hiếp nàng ca.”

Các báo Nhân văn, tạp chí Trăm hoa và Giai phẩm… bị đóng cửa vĩnh viễn, nhưng ngụy quyền của Hồ chí Minh không thể nào “đóng cửa” được “báo nói” của đích thực những “văn nghệ sỹ nhân dân”. Truyện tiếu lâm thời đại, thơ ghế đá được truyền miệng cả Hà-nội đến nông thôn, vừa sâu sắc vừa kịp thời. Đối tượng bị đả kích là ngay lãnh chúa Hồ chí Minh, thí dụ như:

“Việt Nam có một ông già

Râu dài, tóc bạc tên là Chí Minh

Ông hay uống rượu một mình

Hễ buồn lại rủ Trường Chinh uống cùng

Say sưa ông nói lung tung

Việt Nam mình sẽ sánh cùng năm châu

- Này ông, chuyện ấy còn lâu!”

Ngày lăng Hồ chí Minh được khánh thành cũng có thơ ghế đá truyền khắp Hà-nội:

“… Cũng lăng, cũng lính, cũng kèn đồng

Xác chết da xương, tim óc không

Nằm quan tài kính cho người ngắm

Xác nhắm mắt nghiền chẳng dám trông

Sở thú kề gần dăm, bảy bước

Thú người, người thú, nực cười không!”

Ngày tượng Lénine được dựng xong, ai đó đã khoác chiếc áo “đại cán” rách và cái nón cối rách lên tượng, cùng lúc bài thơ ghế đá ra đời:

“Lê-nin quê ở nước Nga

Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này

Ông vênh mặt, ông chỉ tay:

- Tự do, hạnh phúc lũ mày còn xa

Kìa xem gương của nước Nga

Bảy mươi năm lẻ có ra thế nào!”

Nói về thành tích “bác, đảng” đem lại cho nhân dân:

“Tự do chết đói cả nhà

Hạnh phúc vợ góa, mẹ lòa, con côi

Độc lập kiểu ấy… thì thôi!!!”

Giới lãnh đạo cộng sản điên cuồng, Trường Chinh đến trường đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc hằn học lên án “bè lũ ăn cơm xã hội chủ nghĩa mà chửi chủ nghĩa xã hội”. Tố Hữu cho tổ chức “ôn nghèo nhớ khổ” trong các ngành và cho in tập tài liệu “lưu hành nội bộ” có tựa đề: “Về bè lũ Nhân văn – Giai phẩm chống đảng”. Ban tổ chức trung ương ban hành lệnh thành lập bộ phận “bảo vệ đảng” ở tất cả các đảng bộ. Bộ công an tăng cường lập thêm màng lưới đặc tính trong “hợp tác xã văn nô”, nhằm vào “giới trẻ” và kẻ “có tội trong sinh hoạt”. Nhà văn quân đội, trung tá Nguyễn Khải được Tố Hữ ra lệnh viết một loạt 9 bài “hơi tiêu cực” để đăng trên báo… Nhân dân(!). Kết quả: chỉ có một thầy giáo trẻ “hưởng ứng” và bị quân của Dương Thông hỏi thăm sức khỏe. Tố Hữu bẻ mặt, Nguyễn Khải bị mọi người cầm bút xa lánh như tránh hủi (tất nhiên có cả văn nô làm ra vẻ ta “đàng hoàng”). Nhờ thành tích “cò mồi” đó mà văn nô Nguyễn Khải đã nhanh chóng qua mặt các đàn anh, đeo lon đại tá, giữ chức phó tổng thư ký hội nhà văn kiêm ủy viên đảng đoàn của hội liên hiệp văn học nghệ thuật. Trong số các “mú” mới của Dương Thông, phải kể đến hai “mú cái”: một là nhà văn Ngọc Tú, được tuyển chọn sau chuyện bị bắt quả tang “đ… bậy” (không phải ỉa bậy) với kịch tác gia kiêm ủy viên bộ biên tập báo Văn nghệ, Xuân Trình, ngay trên bàn làm việc ở tòa soạn; hai là cô giáo dạy tiếng Pháp Đỗ phương Quỳnh, sau khi đã “cắm sừng và bỏ chồng” nhưng vẫn “ham vui”, được về làm báo ở Nhà xuất bản ngoại văn. Còn “mú đực” cũng nên lưu ý là Nguyễn quang Sáng, một người ham “ăn nhậu” và thích kết bạn với các cai tù để được hành lạc với “tù hình sự nữ”. Hay đi theo Nguyễn quang Sáng đến “chơi” các trại cải tạo có Trịnh công Sơn và Miên đức Thắng, hai người đã được an ninh và trí vận miền (Nam) móc nối từ trước 1975 để làm “suy yếu sức mạnh chống cộng của miền Nam”.

Ngày nay, sức mạnh chính nghĩa của thời đại cùng với hào khí của dân tộc Việt Nam vẫn đang lay tận gốc chế độ xã hội phi nhân do Hồ chí Minh và những người thừa kế thiết lập và củng cố. Những văn nghệ sỹ chân chính vẫn là một sức mạnh đáng kể. Lớp đàn anh trong phong trào Nhân văn – Giai phẩm đã có nhiều người chết, số còn lại quá già yếu hoặc bắt đầu… muốn nghỉ hưu. Nhưng lớp trẻ ở cả trong và ngoài nước ngày càng nhiều, rất sung sức trong việc dùng ngòi bút góp phần xóa bỏ chế độ xã hội phản dân hại nước hiện nay ở Việt Nam. Đương nhiên, để đối phó lại ngụy quyền cộng sản Việt Nam cũng tuyển chọn một đội ngũ “văn nô” và “mú văn học” ở cả trong và ngoài nước. Chỉ cần tỉnh táo đôi chút sẽ phân biệt được văn nghệ sỹ chân chính với văn nô. Bởi vì văn nô cũng giống như kẻ già vờ giết rắn: giơ tay cao đánh nhẹ vào khúc đuôi chứ không dám đánh vào cái đầu. Có điều, nhân dân Việt Nam đã ba đời bị “lừa bịp” nên mau chóng có kinh nghiệm phân biệt thực giả. Cho nên dù Đào duy Tùng và Dương Thông có cho lũ văn nô quốc nội sang tiếp sức cho văn nô hải ngoại như đoàn của Lê đình Kỵ và Ma văn Kháng vừa xong cũng chỉ là cảnh “chết đuối” vớ “bọt bèo”.

Cái ngày tất cả các tầng của tòa nhà 5 tầng (tức 4 lầu) sẽ có nhà cầu đầy tiện nghi không còn bao xa. Và, tầng 4 (tức lầu 3) sẽ là nơi ở của những nhà văn nghệ sỹ rất Việt Nam.

Tháng 6-1992

Chú thích:

1- Ngoài Bắc gọi là 5 tầng, còn trong Nam gọi là 4 lầu 1 trệt.

2- Hố xí hai ngăn là phát minh của chế độ Hồ chí Minh để ở các cơ quan, trường học đi đại tiện. Hố xí có hai ngăn 2 thùng đựng phân khi đi đầy thùng phân thứ nhất thì được bịt kín lại bằng đất và người đại tiện phải đi vào thùng thứ hai. Khi thùng thứ hai đầy, cạy thùng thứ nhất ra lấy phân đó nói là đã được ủ lên men đi sử dụng cho nông nghiệp và cứ như thế.